THUỐC MEN SINH TỒN CƠ BẢN

NHIỆM VỤ: 9103.01-0002, Duy trì thể lực tăng khả năng sống sót.

 

MỤC TIÊU: Bạn sẽ mô tả được các loại thuốc sinh tồn cơ bản.

 

ĐIỀU KIỆN: Bạn có thể sử dụng bài học và các tài liệu tham khảo để hoàn thành bài tập ôn tập.

 

TIÊU CHUẨN: Bạn phải trả lời đúng ít nhất năm trong số bảy câu hỏi bài tập ôn tập.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO: ARs 95-17 (thắng 5 năm 85), 350-30 (85 tháng 12), 525-90 (71 tháng 11, với các thay đổi 1 và 2); AFM 64-5 (85 tháng 9); FM 1-302 (83 tháng 9, với thay đổi 1), 20-150 (73 tháng 7, với thay đổi 1 đến 5), 21-76 (86 tháng 3); và Chỉ thị DOD 1300.7 (Tháng 12 84).

 

NỘI DUNG BÀI HỌC

TỔNG QUAN:

  1. Trước hết, trong số rất nhiều điều có thể ảnh hưởng đến khả năng trở về của một người sống sót là các vấn đề y tế. Các chấn thương thường liên quan đến một vụ va chạm hoặc bắt buộc hạ cánh là bong gân, bỏng, gãy xương, trật khớp và các loại vết thương khác.
  2. Chấn thương và bệnh tật đặc biệt đối với một số môi trường nhất định có thể làm giảm khả năng sống sót. Ở những vùng có khí hậu lạnh và thường trong tình trạng sinh tồn ngoài biển khơi, việc tiếp xúc với thời tiết quá lạnh có thể gây ra chấn thương mô nghiêm trọng, chẳng hạn như tê cóng hoặc tử vong do hạ thân nhiệt. Tiếp xúc với nhiệt ở vùng khí hậu ấm áp và ở một số khu vực nhất định ngoài biển khơi, có thể gây ra chuột rút vì nóng, kiệt sức vì nóng hoặc say nắng đe dọa tính mạng.
  3. Bệnh tật mắc phải khi trốn tránh hoặc trong môi trường KÍN có thể cản trở việc sống sót thành công. Trong số này có sốt phát ban, sốt rét, tả, các bệnh đường hô hấp, rối loạn tiêu hóa, và các bệnh nhiễm trùng và nhiễm trùng ngoài da.
  4. Một đánh giá về kinh nghiệm sống sót từ Thế chiến thứ hai, Hàn Quốc và Đông Nam Á chỉ ra rằng, mặc dù quân nhân Hoa Kỳ nói chung biết cách sơ cứu cho người khác, nhưng rõ ràng là không có khả năng tự sơ cứu. Hầu hết các quân nhân chỉ được dạy về sơ cứu cơ bản. Những vấn đề về chấn thương hoặc bệnh tật nhẹ, khi bị bỏ qua, cũng trở thành vấn đề lớn trong tình huống sinh tồn được nhấn mạnh rất nhiều lần. Vì vậy, chú ý kịp thời đến vấn đề chấn thương hay bệnh tật dù nhỏ nhất là điều cần thiết để nâng cao khả năng sống sót. Áp dụng các nguyên tắc của y học sinh tồn sẽ cho phép các thành viên quân đội duy trì sức khỏe và thể trạng tốt trong một môi trường thù địch hoặc không thù địch cho đến khi được giải cứu và trở lại môi trường an toàn.
  5. Thông tin trong bài học này là tài liệu tham khảo cơ bản về các kỹ thuật và kỹ thuật tự hỗ trợ được tìm thấy trong y học dân gian. Thông tin mô tả các mẹo có thể duy trì sức khỏe trong các tình huống khắc nghiệt về mặt y tế. Nó bao gồm các mặt hàng được sử dụng để ngăn ngừa và điều trị thương tích và bệnh tật. Bởi vì không có tình huống sống sót điển hình, cách tiếp cận tự hỗ trợ phải linh hoạt, chú trọng vào việc sử dụng những gì sẵn có để điều trị chấn thương hoặc bệnh tật. Điều trị y tế của những người thuộc các nền văn hóa khác có thể khác xa so với của chúng ta. Sự điều trị như vậy có thể khiến một số quân nhân Hoa Kỳ không hài lòng; tuy nhiên, viện trợ y tế được cung cấp cho những người sống sót ở các nền văn hóa không thuộc Hoa Kỳ có thể là tốt nhất sẵn có trong hoàn cảnh nhất định.

VÍ DỤ: Ở các vùng nông thôn Việt Nam, thuốc đắp từ thịt trăn được dùng để chữa đau thắt lưng.

  1. Các quy trình trong bài học này phải được nhìn nhận trong thực tế của một tình huống sống còn thực sự. Kết quả điều trị có thể không đạt tiêu chuẩn so với tiêu chuẩn y tế hiện hành. Tuy nhiên, các quy trình này sẽ không ảnh hưởng đến dịch vụ chăm sóc y tế chuyên nghiệp có sẵn sau khi được giải cứu. Hơn nữa, trong bối cảnh sinh tồn, chúng có thể đại diện cho phương pháp điều trị tốt nhất hiện có để kéo dài kỳ vọng sống sót của cá nhân.

QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP

Thuốc sinh tồn bao gồm các quy trình bắt buộc, có sẵn và các biện pháp cấp tốc để bảo vệ sức khỏe và ngăn ngừa, cải thiện hoặc điều trị thương tích và bệnh tật. Chúng cũng thích hợp để được các nhân viên không có chuyên môn tự áp dụng hoặc áp dụng cho đồng đội trong các tình huống sinh tồn.

 

  1. Thuốc sinh tồn không chỉ đơn giản là việc sơ cứu. Nó là phương pháp điều trị tốt nhất trong tình huống không có sẵn sự hỗ trợ của y tế trong một khoảng thời gian hợp lý.
  2. Để tránh trùng lặp thông tin thường có, các nguyên tắc sơ cứu cơ bản không được lặp lại. Các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sự sống còn được đề cập trong bài 2.

VỆ SINH

Trong tình huống sinh tồn, vệ sinh sạch sẽ là điều cần thiết để ngăn ngừa nhiễm trùng.Vệ sinh cá nhân đầy đủ không chỉ bảo vệ chống lại vi khuẩn bệnh tật có trong môi trường xung quanh của cá nhân, mà còn bảo vệ cả nhóm bằng cách giảm sự lây lan của những vi trùng này (Hình 36).

  1. Rửa sạch (đặc biệt là mặt, bàn tay và bàn chân) làm giảm nguy cơ nhiễm trùng do trầy xước và trầy xước nhỏ. Tắm hàng ngày với xà phòng và nước nóng là lý tưởng nhất. Nếu không có sẵn bồn tắm hoặc vòi hoa sen, nên lau người bằng vải và nước xà phòng, đặc biệt chú ý đến mặt, tai, tay, chân và các nếp nhăn trên cơ thể (nách, bẹn, v.v.). Sau khi tắm kiểu này, cơ thể nên được xả sạch bằng nước sạch để loại bỏ bọt xà phòng vì chúng có thể gây kích ứng. Xà phòng, mặc dù là một chất trợ giúp, nhưng không cần thiết để giữ sạch sẽ. Có thể dùng cát, tro, đất mùn và các chất
  • xúc tác khác để làm sạch cơ thể và dụng cụ nấu nướng.
  1. Khi thiếu nước, người sống sót nên tắm bằng hơi trong không khí. Tất cả quần áo nên được cởi bỏ và cơ thể chỉ tiếp xúc với không khí. Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời là lý tưởng, ngay cả trong một ngày u ám hoặc ở trong nhà, việc phơi bày cơ thể trần trụi ngoài không khí trong hai giờ đsẽ giúp cơ thể sảng khoái. Cần chú ý tránh bắt nắng khi tắm theo cách này. Phơi trong bóng râm, nơi trú ẩn hoặc túi ngủ sẽ hữu ích nếu điều kiện thời tiết không cho phép trực tiếp phơi nắng.

 

  1. Tóc nên được cắt tỉa, tốt nhất là từ 5cm trở xuống và khuôn mặt phải được cạo sạch sẽ. Tóc tạo bề mặt cho sự bám của ký sinh trùng và sự phát triển của vi khuẩn. Để tóc ngắn và cạo râu sạch sẽ tạo ra ít môi trường sống cho những sinh vật này hơn. Gội đầu bằng xà phòng và nước ít nhất hàng tuần. Khi thiếu nước, hãy chải hoặc chải tóc thật kỹ và trùm tóc lại để giữ cho tóc sạch. Kiểm tra lông hàng tuần để tìm ký sinh trùng và loại bỏ chúng nếu chúng tồn tại.

 

  1. Tay không sạch là trung gian lây nhiễm vào thức ăn và các vết thương hở. Nên giữ tay sách bằng cách rửa bằng xà phòng và nước, nếu có, sau khi xử lý bất kỳ vật liệu nào có khả năng mang mầm bệnh. Điều này đặc biệt quan trọng sau mỗi lần đến khu vực nhà vệ sinh; khi chăm sóc người bệnh và người bị thương; và trước khi xử lý thực phẩm, dụng cụ thực phẩm hoặc nước uống. Không để ngón tiếp xúc trực tiếp tại vị trí miệng, cắt móng tay cẩn thận và sạch sẽ. Vết xước do móng tay dài có thể phát triển thành nhiễm trùng nặng.

CHĂM SÓC RĂNG MIỆNG

Để ngăn ngừa sâu răng và các bệnh về nướu, hãy làm sạch miệng và răng kỹ lưỡng bằng bàn chải đánh răng và nước cam thảo ít nhất một lần mỗi ngày.

  1. Nếu không có sẵn bàn chải đánh răng, bạn có thể tạo “thanh nhai” từ một cành cây. Rửa sạch cành cây, sau đó nhai một đầu cho đến khi nó sờn và giống như bàn chải. Sau đó, răng có thể được chải kỹ bằng que. Nếu cần thiết, hãy quấn một dải vải sạch quanh ngón tay và chà xát lên răng để quét sạch các mảnh thức ăn. Nếu không có kem đánh răng hoặc thuốc đánh răng, bạn có thể dùng muối, xà phòng hoặc muối nở. Súc miệng bằng trà vỏ cây liễu giúp bảo vệ răng miệng.
  2. Các mảnh vụn thức ăn tích tụ giữa các kẽ răng nên được loại bỏ bằng cách sử dụng chỉ nha khoa hoặc tăm xỉa răng. Các sợi lõi bên trong cây dù có thể được tách ra và được sử dụng như chỉ nha khoa. Có thể dùng những cành cây nhỏ để làm tăm. Kích thích các mô nướu hàng ngày bằng cách chà xát mạnh chúng bằng ngón tay sạch.
  3. Cẩn thận trong việc làm sạch răng giả và các thiết bị nha khoa khác (có thể tháo rời hoặc cố định) như làm sạch răng tự nhiên. Tháo và làm sạch răng giả và cầu răng khi tháo lắp bằng bàn chải hoặc que nhai ít nhất một lần mỗi ngày. Chải hoặc chà xát thường xuyên mô dưới răng giả để làm sạch. Tháo dụng cụ nha khoa vào ban đêm hoặc trong khoảng thời gian hai hoặc ba giờ vào ban ngày.

CHĂM SÓC CHÂN

Điều quan trọng nhất trong tình huống sinh tồn là chăm sóc bàn chân đúng cách, đặc biệt nếu người sống sót phải đi lại. Có thể ngăn ngừa sự cố nghiêm trọng ở chân bằng cách tuân thủ một số quy tắc đơn giản.

  1. Bàn chân phải được rửa sạch, lau khô kỹ và xoa bóp hàng ngày. Nếu thiếu nước, không khí sẽ làm sạch bàn chân cùng với phần còn lại của cơ thể. Cắt móng chân thẳng ngang để ngăn móng chân mọc ngược.
  2. Hãy mang ủng trước khi đi bất cứ nhiệm vụ nào. Chúng phải vừa vặn, không quá chặt đến mức bó buộc và gây ra các điểm tì đè cũng như không quá lỏng để chân có thể trượt về phía trước và phía sau khi đi bộ. Cải tiến phần lót đế để giảm mọi điểm ma sát bên trong giày.
  3. Tất phải đủ rộng để các ngón chân có thể cử động thoải mái nhưng không quá lỏng khiến chúng bị nhăn. Tất len nên lớn hơn tất cotton ít nhất một cỡ để tránh bị co rút. Vớ có lỗ nên được làm sạch đúng cách trước khi mặc. Mang tất có lỗ hoặc những loại không được sửa chữa tốt có thể gây ra các vết phồng rộp. Nên loại bỏ những cục len ở bên trong và bên ngoài ra khỏi tất len vì chúng có thể gây phồng rộp. Thay và giặt tất kỹ lưỡng bằng xà phòng và nước hàng ngày. Giặt tất len trong nước mát để bớt co rút. Trong trại, hãy kéo căng những đôi tất mới giặt để dễ dàng phơi khô dưới ánh nắng mặt trời hoặc trong luồng không khí. Trong khi đi du lịch, có thể làm khô tất ẩm bằng cách đặt chúng bên trong các lớp quần áo hoặc treo chúng ở bên ngoài gói. Nếu vớ bị ẩm, hãy đổi vớ khô.
  4. Khi di chuyển, hãy kiểm tra bàn chân thường xuyên để phát hiện các nốt đỏ hoặc mụn nước. Dùng băng dính che các khu vực mềm để ngăn ngừa hình thành vết phồng rộp.

QUẦN ÁO VÀ CHỖ NGỦ

Quần áo và giường ngủ có thể bị nhiễm bất kỳ vi trùng bệnh tật nào có thể có trên da, trong phân hoặc nước tiểu, hoặc trong chất tiết mũi họng. Do đó, hãy giữ quần áo và giường ngủ càng sạch càng tốt để giảm nguy cơ nhiễm trùng da và khả năng nhiễm ký sinh trùng. Giặt quần áo bẩn bên ngoài bằng xà phòng và nước. Thay quần áo lót và tất hàng ngày. Nếu thiếu nước, hãy giặt sạch quần áo bằng phương pháp giặt khô. Để làm sạch, hãy mang quần áo ra ngoài trời và phơi nắng trong hai giờ. Mặc quần áo làm sạch bằng không khí luân phiên. Lộn mép túi ngủ từ trong ra ngoài, làm tơi lông và cho chúng thoáng khí sau mỗi lần sử dụng. Thay khăn trải giường ít nhất

một lần một tuần; chăn, gối, đệm không khí và nắng (Hình 37).

 

NGHỈ NGƠI

  1. Nghỉ ngơi là cần thiết cho người sống sót vì nó phục hồi sức sống thể chất và tinh thần và thúc đẩy quá trình chữa bệnh. Trong giai đoạn đầu của tình huống sinh tồn, việc nghỉ ngơi là đặc biệt quan trọng. Sau khi hoàn thành các nhiệm vụ cần chú ý ngay lập tức, hãy kiểm kê các nguồn lực sẵn có, quyết định kế hoạch hành động và dùng bữa. Buổi lập kế hoạch này cung cấp một khoảng thời gian nghỉ ngơi mà không mang lại cảm giác rảnh rỗi.
  2. Nếu có thể, hãy lập kế hoạch thời gian nghỉ ngơi đều đặn hàng ngày. Thời gian dành cho việc nghỉ ngơi phụ thuộc vào một số yếu tố bao gồm tình trạng thể chất của người sống sót và sự hiện diện của các thế lực thù địch. Thông thường, 10 phút mỗi giờ là đủ. Trong thời gian nghỉ ngơi, hãy thay đổi từ hoạt động thể chất sang nghỉ ngơi hoàn toàn hoặc từ hoạt động trí óc sang hoạt động thể chất tùy từng trường hợp. Những người sống sót phải học cách trở nên thoải mái và nghỉ ngơi trong điều kiện ít hơn lý tưởng.

XỬ LÝ VẾT THƯƠNG

 

  1. Thở. Khó thở là một cấp cứu đe dọa tính mạng cần được chú ý ngay lập tức. Nếu vấn đề là kết quả của tắc nghẽn đường hô hấp trên cấp tính và các phương pháp hồi sức khác không thành công, thì phẫu thuật cắt tuyến cận giáp ngay lập tức (một đường thở nhân tạo) có thể được yêu cầu để cứu sống người bệnh. Phẫu thuật cắt bỏ tuyến cận giáp là tạo lỗ mở trong khí quản giữa sụn tuyến giáp và sụn vành tai cho phép không khí đi trực tiếp từ bên ngoài vào khí quản mà không đi qua các đường dẫn khí trên. Phẫu thuật cắt bỏ tuyến cận giáp được thực hiện như đã nêu trong Hình 38.

 

THẬN TRỌNG: Quy trình này yêu cầu kiến thức và đào tạo cụ thể. Người không có chuyên môn chỉ nên thực hiện nó trong tình huống chiến đấu sinh tồn và hãy xem đây là biện pháp cuối cùng.

  1. Chảy máu. Điều quan trọng nhất là kiểm soát sự chảy máu trong các tình huống sống còn không thể truyền máu thay thế. Thực hiện các bước cầm máu, bất kể bằng cách nào hãy làm máu ngưng chảy. Sử dụng phương pháp phù hợp với loại và mức độ chảy máu. Garô, khi được yêu cầu và sử dụng đúng cách, sẽ cứu được mạng sống; nếu sử dụng không đúng cách có thể phải trả giá bằng tính mạng. Các đặc điểm cơ bản của garô và cách sử dụng nó được trình bày trong các văn bản sơ cấp cứu tiêu chuẩn; tuy nhiên, một số điểm đáng chú ý trong tình huống sống còn. Chỉ sử dụng garô sau khi đã thử mọi phương pháp thay thế. Dần dần nới lỏng garo sau 20 phút nếu xác định rằng không có hỗ trợ y tế trong hơn hai giờ sau khi áp dụng. Nếu máu đã ngừng chảy, tháo garô; nếu máu vẫn tiếp tục chảy, hãy băng lại và giữ nguyên vị trí của nó. Đắp garo càng gần chỗ chảy máu, giữa vết thương và tim càng tốt, để giảm lượng mô bị mất.

CƠN ĐAU.

  1. Kiểm soát cơn đau.
    1. Kiểm soát cơn đau là rất khó và cần thiết. Ngoài sự khó chịu về tinh thần, cơn đau góp phần gây sốc và khiến người sống sót dễ bị ảnh hưởng bởi kẻ thù hơn. Tốt nhất, cơn đau nên được loại bỏ. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được mặc dù các biện pháp kiểm soát cơn đau rất có lợi.

Hình 38. Vị trí màng tế bào tuyến cận giáp.

  1. Bộ phận cơ thể bị đau nên được cho nghỉ ngơi, hoặc ít ra hạn chế hoạt động của nó. Nên nghỉ ngơi ở vị trí thoải mái và dễ dàng chăm sóc. Nẹp và băng cứu thương có thể cần thiết để chăm sóc nạn nhân không có khả năng di chuyển. Việc nâng cao bộ phận bị thương một phần nào đó giúp nạn nhân bớt bị đau hơn. Rửa sạch vết thương hở, loại bỏ chất bẩn, các vật thể lạ, và băng bó kín đáo để tránh việc vết thương tiếp xúc với không khí. Thông thường thì sự ấm áp có tác dụng giảm đau (đau răng và viêm); tuy nhiên, ở một số điều kiện, chườm lạnh vết thương cũng có tác dụng tương tự (căng cơ và bong gân). Nhiệt độ ấm và lạnh tốt nhất nếu được sử dụng với nước vì chúng có nhiệt dung riêng cao. Nạn nhân có thể kiểm tra thử cách nào dễ chịu nhất.
  1. Giảm đau
  2. Thuốc men rất hiệu quả trong việc giảm đau; tuy nhiên, chúng không phải lúc nào cũng có, nhất là trong tình cảnh sống còn. Aspirin (thuốc giảm đau), APCs và các loại thuốc tương tự thường được dùng để chống cảm lạnh hoặc các bệnh hô hấp. Các loại thuốc này có thể giúp làm giảm các cơn đau dữ dội, tuy nhiên, chỉ dùng khi có chúng. Nếu không có aspirin, có thể dùng một số bộ phận của thực vật.

 

  1. Hầu hết các giống cây liễu được sử dụng phổ biến hàng trăm năm nay vì công dụng giảm đau và hạ sốt của chúng. Vỏ cây tươi chứa salicin, chúng sẽ được phân tách thành axit salicylic trong cơ thể người. Lá cây của cây lộc đề xanh (wintergreen/checkerberry) được làm thành trà bởi những người da đỏ để giảm đau nhức. Vỏ cây mộc lan khi luộc lên giúp giảm đau nội tạng và hạ sốt và chữa trị bệnh kiết lỵ.
  2. Để có thể kiểm soát cơn đau hiệu quả, thuốc mê mạnh rất cần thiết. Trong những cuộc chiến, morphine thường có trên máy bay cùng với những bộ sơ cứu cá nhân.
  3. Sốc
  4. Phản ứng tuần hoàn. Sốc trong một vài trường hợp thường đi kèm với những vết thương; thường thì nó là điều nghiêm trọng nhất mà bạn gặp phải. Căn bản thì sốc là một phản ứng tuần hoàn của cơ thể đối với với thương. Những thay đổi về hệ tuần hoàn ban đầu giúp cơ thể bạn chống lại những vết thương (bằng cách điều chỉnh lượng máu hợp lý đến những cơ quan quan trọng), nhưng những thay đổi này có thể dẫn đến suy tuần hoàn và tử vong. Tất cả thành viên đều quen thuộc với những dấu hiệu và triệu chứng của sốc và có thể dự đoán, nhận biết và xử lý một cách hiệu quả. Tuy nhiên, phương pháp bảo đảm tỉ lệ sống sót cao nhất chính là chăm sóc tất cả các vết thương từ nặng tới nhẹ để chống sốc. Không có nguy hại gì xảy ra, và tất nhiên sự chăm sóc sẽ tăng tốc tốc độ hồi phục.
  5. Chất lỏng. Thông thường, chất lỏng tiêu thụ bằng miệng không được sử dụng trong việc điều trị sốc sau chấn thương nghiêm trọng. Khi nuốt bằng miệng, chất lỏng khó được hấp thụ và có thể ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc mê trong phẫu thuật. Trong y học sinh tồn, trường hợp này khác ở chỗ phương pháp điều trị được đưa ra là phương pháp điều trị cuối cùng. Những nạn nhân sống sót không thể thiếu nước trong một thời gian dài bởi vì họ đang bị thương; thực tế là tốc độ hồi phụ phụ thuộc vào việc uống nước đầy đủ. Một ít trà, cà phê hoặc nước ấm rất tốt cho khoảng thời gian đầu của cơn sốc nếu nạn nhân còn tỉnh táo, có khả năng nuốt và không có nội thương. Ở những cơn sốc sau này, tiêu thụ chất lỏng bằng đường miệng kém hiệu quả hơn vì chúng không được hấp thụ bằng ruột được. Những vết bỏng cần một lượng lớn nước để bù vào phần chất lỏng bị mất ở vết thương. Tuyệt đối không cho nạn nhân đang trong cơn sốc hoặc sắp bị sốc uống các loại thức uống có cồn.
  6. Sốc tâm lý. Sốc tâm lý thường được thấy sau khi có trường hợp khẩn cấp, như trong một vụ cứu trợ. Sốc tâm lý xảy ra ngay khi cả không có một chấn thương nào, yêu cầu sự chú ý để giới hạn chúng về mức độ và thời gian. Mức độ của của sốc sau chấn động tùy thuộc vào từng người, những lý do xảy ra thì gần như là tương tự. Thực tế thì nạn nhân sống sót đã trải qua hai trường hợp khẩn cấp gần như cùng một lúc: sự cố máy bay dẫn đến với tình trạng sinh tồn và bản thân trường hợp đó. Nếu người sống sót bị thương (phần lớn trường hợp là như thế), trường hợp khẩn cấp thứ 3 được thêm vào. Do đó, không có gì lạ khi một số phản ứng tâm lý có thể liên quan đến các sự cố xung quanh xảy ra. Khả năng chống chịu loại sốc này tùy thuộc vào tính cách của từng cá nhân và cường độ luyện tập mà cá nhân đó nhận được. Việc điều trị bao gồm dừng lại tất cả các hoạt động (nếu có thể), thư giãn, đánh giá tình hình, và tạo nên một kế hoạch trước khi tiến vào tình trạng sinh tồn.

CHẤN THƯƠNG

  1. Chấn thương vùng đầu
    1. Chấn thương vùng đầu gây thêm những vấn đề liên quan tới chấn thương não bộ cũng như ảnh hưởng tới hô hấp và ăn uống. Việc chảy máu sẽ nghiêm trọng khi xảy ra ở vùng đầu và vùng khuôn mặt, nhưng nhiễm trùng sẽ khó xử lý hơn. Sẽ an toàn hơn một chút khi xử lý vết thương sớm để đảm bảo quá trình hoạt động. Mở màng nhẫn giáp có thể cần thiết khi việc hô hấp trở nên khó khăn khi có dị vật trong đường thở trên.
    2. Khi nạn nhân bất tỉnh, trông chừng nạn nhân cẩn thận và cố định nạn nhân. Khi chuẩn bị đối diện với cơn sốc, giữ đầu nạn nhân cao hơn nếu nghi ngờ có khả năng xảy ra chấn thương não bộ. Đừng cho nạn nhân bị bất tỉnh uống bất cứ chất lỏng gì hoặc morphine.
  2. Chấn thương vùng ngực. Chấn thương vùng ngực rất dễ xảy ra, đau đớn và có thể vô hiệu hóa hoạt động của nạn nhân. Bầm dập nặng vùng ngực hoặc gãy xương sườn yêu cầu vùng ngực phải được cố định để hạn chế thành ngực động đậy và gây đau đớn. Trong tình trạng sống còn, bạn cũng có thể cần phải tự băng bó vùng ngực của bạn. Quá trình này khó khăn hơn nhưng vẫn có thể làm được bằng cách nối phần cuối của đoạn băng vào một cái cây hay một vật thể chắc chắn nào đó. Trong khi giữ lấy phần cuối, xoay thân từ từ hướng về phía cái cây. Hãy chắn chắn rằng bạn quấn đủ lực để đảm bảo băng cứu thương được chắc chắn.
  3. Chấn thương vùng mắt. Chấn thương vùng mắt thực sự rất là nghiêm trọng trong tình cảnh sinh tồn bởi vì nó rất đau đớn và ảnh hưởng tới những chức năng sinh tồn khác. Kỹ thuật loại bỏ những dị vật bên ngoài và chăm sóc mù tuyết (viêm giác mạc) được ghi trong. Những chấn thương vùng mắt nghiêm trọng làm gián đoạn hoạt động có thể cần phải đóng chặt mí mắt hoặc được che lại để tránh việc nhiễm trùng.
  4. Gai và mảnh nhọn. Để giảm thiểu nguy hiểm của việc tiếp xúc với những cây gai và mảnh nhọn, hãy đeo bao tay và bảo hộ chân. Nhanh chóng gỡ chúng ra để tránh việc nhiễm trùng. Những vết thương gây bởi chúng có độ sâu lớn hơn chiều rộng, có khả năng nhiễm trùng cao hơn bởi những vi khuẩn (ví dụ như uốn ván) phát triển rất nhanh trong môi trường không có oxy. Loại bỏ những mảnh nhọn bằng một dụng cụ sắc nhọn (kim hoặc dao), kềm đầu nhọn, hoặc nhíp. Cẩn thận loại bỏ hoàn toàn hết những dị vật; thi thoảng tốt nhất là để vết thương hở miệng để dễ dàng khử trùng và cho phép không khí đi vào vết thương. Khi đã khử trùng, chăm sóc chúng tương tự với mọi loại vết thương khác.
  5. Phồng rộp và trầy trụa. Chăm sóc bàn chân là một việc vô cùng quan trọng trong điều kiện sinh tồn. Nhanh chóng chăm sóc vết phồng rộp và vết trầy. Nếu bạn nhận thấy sưng đỏ và đau đớn, dừng lại (nếu có thể) để tìm và xử lý nguyên nhân. Mặc đồ kín đáo, băng cứu thương hoặc băng keo cá nhân là những việc hiệu quả để phòng chống bị trầy. Nếu bạn bị trầy, tuyệt đối KHÔNG gỡ lớp trên cùng của da. Vết trầy bị hở là điều kiện hoàn hảo cho sự nhiễm trùng. Làm sạch vùng bị trầy với dung dịch kháng khuẩn nếu có, và dùng vải sạch để băng lại. Chăm sóc vết phồng rộp và vết trầy tương tự như nhau.
  6. Vết cắn côn trùng. Vết cắn của côn trùng, đỉa hút máu, ve, bọ chét và bọ hung gây ra một số mối nguy hiểm. Những sinh vật này có thể lây truyền cho bạn những căn bệnh chết người, và vết cắn có thể trở nên bị nhiễm trùng nếu gãi liên tục. Bạn nên kiểm tra kỹ cơ thể của bạn một cách thường xuyên để phát hiện những loài sinh vật ký sinh và loại bỏ chúng ngay sau khi phát hiện. Hãy chú ý những vùng da như những nếp nhăn trên da. Ta có thể loại bỏ đỉa hút máu dễ dàng bằng cách sử dụng nhiệt hoặc chất kích thích để chúng thả lỏng miệng của chúng. Mặt khác, không nên sử dụng nhiệt để gỡ những con ve vì có thể gia tăng tỉ lệ chất bẩn bám vào vết cắn. Loại bỏ những con ve bằng cách kéo chúng với lực đều cho đến khi chúng nhả miệng ra. Bạn có thể hạn chế việc tiếp xúc với những con vật ký sinh bằng cách tránh bóng râm và các vùng nhiều cây. Chăm sóc những vết cắn như bao loại vết thương khác. Sử dụng khăn ướt lạnh để giảm ngứa ngáy và sưng tấy.
  7. Gãy xương
    1. Cố định đúng cách vùng bị gãy, bị trật, bong gân còn quan trọng hơn trong y học sinh tồn hơn là sơ cứu cá nhân. Trong y học sinh tồn, thay vì làm nạn nhân thoải mái trong việc di chuyển; việc cố định ban đầu là một trong những sự chăm sóc quan trọng nhất. Mặc dù cố định các bộ phận cơ thể giúp kiểm soát cơn đau, cố định đúng chỗ giúp tăng tốc độ liền xương và cải thiện chức năng thể chất. Trong điều kiện sinh tồn, việc cố định phải được đảm bảo trong một thời gian dài. Vật liệu làm nẹp cố định và băng bó có sẵn trong hầu hết mọi trường hợp sinh tồn. Phương pháp kỹ thuật đều được hướng dẫn sẵn trong bộ sơ cứu cá nhân.
    2. Giảm bớt tình trạng gãy xương thường thì vượt quá phạm vi sơ cứu; tuy nhiên, trong tình trạng sinh tồn kéo dài, căn chỉnh lại biến dạng xương là rất cần thiết để tăng tốc hồi phục và đảm bảo được khả năng vận động tốt nhất. Thời gian tốt nhất để điều chỉnh chỗ gãy là ngay sau khi bị gãy, trước khi những cơn chuột rút đau đớn xảy ra. Kéo dãn nhẹ nhàng để thẳng hàng những mảnh xương và đảm bảo cố định chắc chắn phần chi bị gãy (đối chiếu với chi khác). Tiếp tục kéo dãn nhẹ nhàng thường xuyên để bảo đảm xương được thẳng hàng.
    3. Vì không có phôi thạch cao trong tình trạng sinh tồn, ứng biến trong việc cố định chỗ gãy rất quan trọng. Có thể sử dụng những cành cây liễu đan song song và cố định lại bằng dây dù hoặc dây leo. Cẩn thận không để phần chi bị gãy chật chội khi sưng lên. Trong cuộc đào tẩu và trốn thoát, không cần thiết phải đảm bảo sự cơ động của nạn nhân khi xử lý phần chi gãy. Sẽ khó khăn hơn đối với việc bị gãy phần chi bên dưới, mặc dù cành cây có thể dùng để làm nạng. Nếu có bạn đồng hành, ta cũng có thể tự chế cái kiệu nếu có thể
    4. Xử lý trật khớp cũng tương tự với việc xử lý gãy xương. Nhẹ nhàng mà chắc chắn, kéo phần chi cho đến khi nó vào đúng khớp. Nếu nạn nhân chỉ có một mình, vấn đề này sẽ phức tạp hơn nhưng không phải là không thể. Việc kéo khớp vẫn có thể nếu sử dụng trọng lực. Cột phần cuối của chi bị trật với một vật thể cứng và cố định. Tiếp theo thả lỏng, để cân nặng của cơ thể cố gắng thực hiện việc kéo khớp, điều chỉnh khớp trật cho đến khi xương vào đúng vị trí của nó.
  8. Bỏng
    1. Bỏng, thường gặp ở những tai nạn máy bay và những trường hợp sống còn khác, là một vấn đề nguy hiểm. Bỏng tạo cho ta cảm giác đau đớn nghiêm trọng, gia tăng tỉ lệ bị sốc và nhiễm trùng, và gây nên sự mất nước và mất khoáng chất trong cơ thể. Đầu tiên, giảm đau và phòng chống nhiễm trùng bằng cách che vết thương với vải sạch. Cách này sẽ hạn chế đau đớn và khả năng nhiễm trùng. Hơn nữa, sự bảo vệ từ vải sạch tăng cường khả năng di chuyển và các hoạt động sinh tồn quan trọng khác. Ở các vết bỏng ở mặt và cổ, đảm bảo nạn nhân có thể thở được. Nếu cần thiết, mở màng nhẫn giáp trước khi nạn nhân xuất hiện những triệu chứng nghiêm trọng. Những vết bỏng trên mặt và bàn tay cũng khá nghiêm trọng bởi vì chúng gây khó khăn cho nạn nhân trong việc đảm bảo nhu cầu cá nhân. Nhúng vỏ cây (cây liễu, cây sồi, cây phong) vào trong nước để tạo dung dịch từ nước và axit từ vỏ cây. Bôi dung dịch lên phần da bị bỏng để bảo vệ các vết bỏng qua tính chất làm se dịu của dung dịch.
      Chú ý: Không bôi các loại dầu mỡ hoặc chất béo lên vết bỏng.
    2. Duy trì lượng nước và muối khoáng trong cơ thể rất quan trọng cho việc hồi phục vết bỏng. Cách duy nhất để hấp thụ nước trong tình trạng sống còn là qua đường miệng, nạn nhân cần uống đầy đủ nước trước khi xảy ra tình trạng buồn nôn và nôn mửa do độc tính. Ăn các loại mắt nấu chín và máu giúp hồi phục lượng chất điện giải nếu không có muối.
      Chú ý: Người sinh tồn có thể có muối khoáng trong bộ sinh tồn cá nhân thay thế cho chất điện giải (¼ muỗng cho một lít nước).

VẾT THƯƠNG

 

  1. Vết rách. Những vết rách tốt nhất là nên để hở bởi vì xác suất  nhiễm trùng. Làm sạch kỹ, loại bỏ dị vật chất bẩn, và băng bó bằng vải sạch. Thông thường, giữ nạn nhân cố định tăng tốc độ hồi phục của vết thương. Ở một vài thời điểm, việc đóng miệng vết thương là cần thiết, bất chấp nguy cơ nhiễm trùng, để giảm thiểu xuất huyết và tăng cường sự linh động cho nạn nhân. Nếu có kim, có thể khâu vết thương lại. Ta có thể dùng vải quần áo, hoặc dây dù để làm chỉ khâu. Nếu việc khâu vết thương là cần thiết, đảm bảo các mũi khâu đủ xa nhau để vết thương được thoáng khí. Đừng quan tâm đến việc để lại sẹo; khâu đúng chỗ là được. Đối với vết thương vùng đầu, bạn có thể dùng tóc để che kín vết thương sau khi được làm sạch. Khả năng nhiễm trùng vùng đầu sẽ thấp hơn vì lượng máu chảy vùng này rất dồi dào.
  2. Vết thương vùng bụng. Trong tình cảnh sống còn, vết thương vùng bụng tương đối nghiêm trọng. Nếu ta không phẫu thuật ngay lập tức, nạn nhân có khả năng tử vong rất cao và với những vết thương nghiêm trọng, nạn nhân không thể tự chăm sóc bản thân mình được. Quấn băng cứu thương chắc chắn ở vùng bụng để tránh việc phần ruột bị tuột ra ngoài vết thương. Nếu ruột bị lòi ra ngoài, tuyệt đối KHÔNG được đặt chúng lại vào bên trong bởi vì chắc chắn nạn nhân sẽ tử vong bởi việc này. Che đậy phần ruột bị lòi ra ngoài bằng miếng vải lớn, và giữ phần vải luôn ẩm bằng nước tiểu hoặc nước uống. Nạn nhân nên nằm ngửa và không được di chuyển, động đậy tránh việc áp lực vào ổ bụng và phần ruột sẽ lòi ra thêm. Giữ cho nạn nhân nằm một chỗ hoặc cho nằm trên nạn. Việc đối mặt với cái chết hay vết thương được xử lý và lành lại đều tùy vào số phận.

 

  1. Vết thương sâu vùng ngực. Những vết thương này được nhận biết dễ dàng bởi âm thanh hút và sự hiện diện của bong bóng ở vết thương. Những vết thương này phải được đóng miệng ngay lập tực trước khi những vấn đề hô hấp và tuần hoàn nghiêm trọng và phức tạp xảy ra. Tốt nhất nạn nhân nên cố gắng thở ra trong khi giữ miệng và mũi đóng lại (động tác Valsalva) khi vết thương được đóng lại. Việc này sẽ giúp phổi không bị phồng và giảm thiểu lượng không khí bị chặn lại trong khoang màng phổi. Thông thường, tất cả những gì cần thiết là băng bó, băng kín hơi, nhưng đôi khi cần phải khâu lại để đảm bảo vết thương liền miệng.

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ CHUNG

  1. Nhiễm trùng. Nhiễm trùng là mối nguy hiểm cho nạn nhân sinh tồn. Việc trì trệ điều trị y tế và tình cảnh của tình trạng sinh tồn làm gia tăng khả năng nhiễm trùng. Thuốc kháng sinh có thể không đủ trong tình cảnh này. Trong y học sinh tồn, bạn phải chú trọng trong việc phòng ngừa và kiểm soát nhiễm trùng bằng cách áp dụng kỹ thuật sau đây.
    1. Không may rằng, thông thường những người sinh tồn có rất ít thông tin về loại nhiễm trùng khi xảy ra thương tích. Tuy nhiên, bạn có thể kiểm soát tốt hơn sự nhiễm trùng bằng cách mặc đồ sạch sẽ. Cẩn trọng, trách việc nghiêm trọng hóa sự nhiễm trùng. Loại bỏ quần áo vùng vết thương để tránh việc bị nhiễm khuẩn vùng da xung quanh. Tuyệt đối KHÔNG đụng vào bằng tay bẩn hoặc các vật khác vào thương dù vết thương không nghiêm trọng, ngoại trừ việc xử lý sự xuất huyết động mạch.
    2. Nhanh chóng làm sạch tất cả vết thương. Nước là chất làm sạch vết thương mà ta có thể gặp ở nhiều nơi và nên được khử trùng trước khi sử dụng. Ở độ cao mặt nước biển, khử trùng nước bằng cách cho nước vào một vật chứa đóng nắp và đun sôi trong vòng mười phút. Ở độ cao 3000 feet so với mặt nước biển, đun sôi nước trong một giờ để đảm bảo việc khử trùng hoàn toàn. Nước sẽ luôn vô trùng nếu được bảo quản đúng cách bằng cách che đậy kín lại,
    3. Tưới vết thương thay vì chà rửa để giảm thiểu tổn thương thêm mô. Rửa sạch vật lạ khỏi vết thương để loại bỏ các nguồn tiếp tục nhiễm trùng. Rửa kỹ vùng da tiếp giáp với vết thương trước khi băng bó. Khi không có sẵn nước để rửa vết thương, hãy cân nhắc sử dụng nước tiểu. Nước tiểu có thể là chất lỏng gần như vô trùng nhất trong số tất cả các chất lỏng hiện có và, trong một số nền văn hóa, được ưu tiên dùng để làm sạch vết thương. Sử dụng nước tiểu ở giữa dòng chảy.
    4. Trong khi xà phòng không cần thiết để làm sạch vết thương, một thanh xà phòng tẩm thuốc được đặt trong bộ dụng cụ sinh tồn cá nhân và được sử dụng thường xuyên có tác dụng ngăn ngừa sự lây nhiễm của những vết thương có vẻ nhỏ nhặt. Thuốc sát trùng bên ngoài được sử dụng tốt nhất để làm sạch các vết trầy xước, trầy xước và các vùng da tiếp giáp với vết rách. Nếu được sử dụng ở những vết thương sâu, lớn hơn, thuốc sát trùng làm tổn thương mô thêm.
    5. Thiên nhiên cũng cung cấp chất khử trùng có thể được sử dụng để chăm sóc vết thương. Loại tro núi của Mỹ, được tìm thấy từ Newfoundland về phía nam đến Bắc Carolina, và vỏ bên trong của nó có đặc tính khử trùng; Quả mọng màu đỏ, có chứa axit ascorbic, ăn để chữa bệnh scorbut. Vỏ cây Sweet Gum được chính thức công nhận là một chất khử trùng. Nước đun sôi từ lá Sweet Gum cũng được sử dụng như một chất khử trùng cho vết thương.
  2. Cơ chế bảo vệ của cơ thể. Cơ thể con người có khả năng chống lại nhiễm trùng rất tốt nếu nó được phép làm như vậy. Chườm nóng lên vết thương bị nhiễm trùng sẽ hỗ trợ thêm cho việc huy động các biện pháp bảo vệ cơ thể tại chỗ. Ngâm nước muối ấm giúp loại bỏ nhiễm trùng và thúc đẩy rỉ dịch chất lỏng từ vết thương, do đó loại bỏ các sản phẩm độc hại. Bột đất sét sạch, vỏ cây vụn của hầu hết các loại cây và hạt cỏ xay đều có tác dụng tương tự. Ngoài tầm quan trọng của việc nghỉ ngơi và dinh dưỡng hợp lý trong việc chữa lành vết thương và kiểm soát nhiễm trùng, bạn nên cải thiện hậu cần của bộ phận bị thương. Cố định vết thương ở một vị trí để tạo điều kiện thuận lợi cho sự lưu thông đầy đủ đến và đi từ vết thương. Tránh mặc quần áo hoặc băng bó sát. Bất chấp tất cả các biện pháp phòng ngừa, nhiễm trùng ở một mức độ nào đó hầu như phổ biến ở các vết thương sinh tồn. Đây là lý do chính cho phương pháp điều trị cởi mở được ủng hộ dưới đây.
  3. Biện pháp Open-Treatment. Phương pháp này là cách an toàn duy nhất để quản lý vết thương sinh tồn. Không nên cố gắng đóng vết thương hở bằng cách khâu hoặc bằng các thủ thuật khác. Trên thực tế, có thể cần phải mở vết thương nhiều hơn để tránh vướng hoặc nhiễm trùng và thúc đẩy quá trình thoát nước. Thuật ngữ “hở” không có nghĩa là không nên sử dụng băng gạc. Phẫu thuật tốt đòi hỏi mặc dù vết thương không “khép miệng”, các dây thần kinh, xương và mạch máu phải được bao phủ bằng mô. Phán đoán như vậy có thể nằm ngoài khả năng của thành viên trong đội, nhưng việc bảo vệ các cấu trúc quan trọng sẽ hỗ trợ cho việc phục hồi và chức năng cuối cùng. Một ngoại lệ đáng chú ý đối với điều trị hở là việc các vết thương trên mặt liền lại sớm gây cản trở hô hấp, ăn uống hoặc uống rượu. Vết thương, để hở, chữa lành bằng cách hình thành mô hạt kháng nhiễm trùng . Mô này có thể dễ dàng nhận ra bởi hình dạng hạt màu đỏ ẩm của nó – một dấu hiệu tốt cho bất kỳ vết thương nào.
  4. Thuốc kháng sinh. Uống thuốc kháng sinh, nếu có, để kiểm soát nhiễm trùng. Sự đồng thuận là thuốc phải là thuốc “phổ rộng”; nghĩa là, nó phải có hiệu quả chống lại bất kỳ vi sinh vật nào thay vì chỉ đặc hiệu cho một hoặc hai loại. Số lượng chính xác bao gồm trong bộ dụng cụ sinh tồn thay đổi theo loại thuốc và số lượng cơ bản và các loại nhiễm trùng dự kiến. Hãy nhớ rằng thuốc kháng sinh phải còn hạn sử dụng (thời hạn sử dụng khoảng 4 năm). Đưa chúng vào bộ dụng cụ sinh tồn đòi hỏi phải kiểm tra bộ dụng cụ và thay thế thuốc bằng nguồn dự trữ y tế đang có.
  5. Sự cắt bỏ. Cắt bỏ là phẫu thuật loại bỏ các mô bị rách, nát hoặc bị ô nhiễm. Các vết thương nặng có thể cần được băng vết thương để giảm thiểu nhiễm trùng (đặc biệt là loại hoại thư do khí) và để giảm (thấp hơn) sốc nhiễm trùng (độc). Về bản chất, cắt bỏ là loại bỏ vật chất lạ và mô chết hoặc sắp chết. Quy trình này đòi hỏi kỹ năng và chỉ nên được thực hiện bởi nhân viên y tế trong trường hợp khẩn cấp. Nếu cần thiết, hãy cắt bỏ da chết. Cắt cơ trở lại điểm bắt đầu chảy máu và chấm dứt tình trạng đổi màu. Chất béo bị hư hỏng có xu hướng chết đi và cần được cắt bỏ. Bảo tồn xương và dây thần kinh nếu có thể, và bảo vệ chúng khỏi bị tổn thương thêm. Cung cấp nhiều hệ thống thoát nước tự nhiên cho vết thương có khả năng bị nhiễm trùng và trì hoãn quá trình đóng lại cuối cùng.
  6. Thoát nước. Hệ thống thoát nước tự nhiên đầy đủ của các khu vực bị nhiễm trùng sẽ thúc đẩy quá trình chữa lành. Nói chung, bấc hoặc cống là không cần thiết. Tuy nhiên, thỉnh thoảng, có thể tốt hơn là loại bỏ ổ tụ mủ (áp xe) và chèn túi nhẹ, lỏng để đảm bảo thoát nước liên tục. Khử trùng dao hoặc dụng cụ khác được sử dụng để rạch để thoát nước nhằm tránh đưa các loại sinh vật khác vào. Cách tốt nhất để khử trùng tại hiện trường là bằng nhiệt khô hoặc ẩm.
  7. Băng bó vết thương. Sau khi rửa sạch, băng vết thương bằng băng sạch. Băng phải được vô trùng; tuy nhiên, trong tình huống sinh tồn, bất kỳ miếng vải sạch nào cũng giúp bảo vệ vết thương khỏi bị nhiễm trùng thêm. Một loại băng thích hợp sẽ cố định băng vào vết thương và bảo vệ thêm. Băng phải đủ khít để tránh bị trượt nhưng không bị co thắt. Áp lực nhẹ làm giảm cảm giác khó chịu ở hầu hết các vết thương và giúp cầm máu. Khi đã vào chỗ, KHÔNG thay băng quá thường xuyên trừ khi được yêu cầu; bẩn bên ngoài không làm giảm hiệu quả của băng. Đau và một số tổn thương mô đi kèm với bất kỳ loại bỏ nào, và việc thay băng sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm trùng.
  8. Liệu pháp sử dụng ấu trùng. Trong Thế chiến thứ nhất, giòi là một phương pháp điều trị được chấp nhận cho các vết thương bị nhiễm trùng. Chúng ăn các mô bị nhiễm trùng và chết từ những vết thương đó. Tuy nhiên, trước khi bạn quyết định sử dụng giòi, hãy nhớ rằng bạn phải để vết thương tiếp xúc với ruồi để có giòi. Do thói quen bẩn thỉu của chúng, ruồi có khả năng đưa các vi khuẩn khác vào vết thương, có thể gây ra nhiều biến chứng. Ngoài ra, giòi  không thích xâm nhập vào mô sống, khỏe mạnh khi mô chết không còn hoặc không có sẵn. Tuy nhiên, bất chấp những nguy hiểm của nó, hãy cân nhắc sử dụng liệu pháp giòi (Hình 39) khi bạn không có thuốc kháng sinh và vết thương không lành, đã bị nhiễm trùng nặng và không thể làm sạch vết thương thông thường.

 BỆNH

 

Nhiều bệnh không nghiêm trọng trong một môi trường y tế bình thường trở thành nghiêm trọng trong tình huống sống sót khi bệnh nhân ở một mình mà không có thuốc hoặc chăm sóc y tế. Sử dụng các phương pháp tiêu chuẩn (điều trị các triệu chứng) để ngăn ngừa các bệnh mong đợi vì việc điều trị trong tình trạng sống còn rất khó khăn. Các phương pháp phòng ngừa chính là tập thể dục, duy trì chế độ ăn uống hợp lý và duy trì hồ sơ tiêm chủng hiện tại.

  1. Ngộ độc thực phẩm
    1. Ngộ độc thực phẩm là một mối đe dọa đáng kể đối với những người sống sót. Do thực phẩm có sẵn lẻ tẻ, thực phẩm dư thừa phải được bảo quản và để dành cho việc tiêu dùng sau này. Các phương pháp bảo quản thay đổi theo khu vực và tình hình toàn cầu. Việc ô nhiễm vi khuẩn vào nguồn thực phẩm trong lịch sử đã gây ra nhiều khó khăn trong các tình huống sinh tồn hơn là ăn phải những thực vật và động vật độc hại. Tương tự như vậy, bệnh kiết lỵ hoặc các bệnh lây truyền qua đường nước có thể được kiểm soát bằng vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường hợp lý.
  • Nếu ngộ độc thực phẩm là do độc tố đã tạo sẵn (tụ cầu hoặc ngộ độc thịt) thì tốt nhất là điều trị hỗ trợ. Các triệu chứng cấp tính xảy ra (buồn nôn, nôn và tiêu chảy) ngay sau khi ăn phải thực phẩm bị ô nhiễm. Giữ cho bệnh nhân yên lặng và nằm xuống, và đảm bảo bệnh nhân uống một lượng nước đáng kể. Nếu ngộ độc do ăn phải vi khuẩn phát triển trong cơ thể (khởi phát chậm dần các triệu chứng giống nhau), hãy dùng thuốc kháng sinh (nếu có). Trong cả hai trường hợp, các triệu chứng có thể được giảm bớt bằng cách thường xuyên ăn một lượng nhỏ than sạch, mịn. Trong hoàn cảnh tù binh, hãy nghiền phấn, nếu có, thành bột và ăn để đắp và xoa dịu ruột. Vệ sinh cá nhân và vệ sinh cá nhân đúng cách giúp ngăn ngừa việc tiếp tục tái nhiễm hoặc lây bệnh cho người khác.
  1. Nhiễm trùng da. Nhọt, phát ban nhiệt và nhiễm nấm hiếm khi phát triển thành các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Tuy nhiên, chúng gây khó chịu và cần được điều trị.
    1. Nhọt. Chườm ấm để làm nổi mụn nhọt. Sau đó, mở nhọt bằng dao, dây, kim vô trùng, hoặc các vật dụng tương tự. Làm sạch mủ bằng xà phòng và nước. Làm kín vết nhọt và kiểm tra định kỳ để đảm bảo không phát triển thêm nhiễm trùng.
    2. Phát ban nhiệt. Giữ cho khu vực sạch sẽ và khô ráo. Bôi bột nếu có. Chườm lạnh có thể giúp giảm ngứa.
    3. Nhiễm nấm. Giữ cho da sạch và khô, đồng thời để vùng da bị nhiễm bệnh tiếp xúc với ánh nắng càng nhiều càng tốt. Không gãi hoặc sử dụng các chất mạnh như iốt và cồn. Bạn không thể “đốt cháy” nấm.
  1. Ký sinh trùng đường ruột. Bạn hoàn toàn có thể tránh được sự xâm nhập của các loại giun hoặc ký sinh trùng khác nếu bạn thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng ngừa. Như là không bao giờ đi chân trần. Biện pháp phòng ngừa ký sinh trùng hiệu quả nhất là không ăn đồ sống hoặc chưa chín kỹ, chúng có thể bao gồm các chất ô nhiễm từ rác thải hoặc chất thải của con người được dùng làm phân bón (phân bắc). Dù vậy, nếu cơ thể bạn bị nhiễm ký sinh trùng nhưng bản thân đang trong điều kiện y tế thiếu thốn, bạn có thể thử một trong các biện pháp điều trị tại nhà như trong hình 40. Tuy vậy, phần lớn những biện pháp này dựa trên nguyên tắc làm thay đổi môi trường đường ruột nên có chứa những rủi ro nhất định.
  2. Tiêu chảy. Đây là một chứng bệnh suy nhược thường gặp do các nguyên nhân như thay đổi nguồn nước và thức ăn, nguồn nước uống bị ô nhiễm, ăn thức ăn hư hỏng, mệt mỏi suy nhược hay sử dụng dụng cụ đồ ăn không sạch sẽ. Hầu hết những nguyên nhân này đều có thể phòng tránh bằng cách áp dụng các công tác phòng chống y tế, giữ gìn vệ sinh chung. Nếu bạn đang có biểu hiện của bệnh tiêu chảy và hiện không có liều thuốc đặc trị thì bạn có thể sử dụng các phương pháp điều trị sau đây:
    1. Hạn chế thu nạp chất lỏng trong vòng 24 giờ.
    2. Uống 1 tách trà đặc mỗi 2 giờ, duy trì cho đến khi biểu hiện tiêu chảy thưa dần hoặc ngừng hẳn. Axit tannic trong trà hỗ trợ kiểm soát tiêu chảy, là thành phần bên trong lớp vỏ ẩm của cây gỗ cứng. Đun sôi lớp vỏ bên trong ít nhất hai giờ có thể giải phóng lớp axit tannic này. Mặc dù biện pháp này có mùi vị không hề dễ chịu nhưng nó có thể khắc phục hầu hết các trường hợp gây ra bệnh tiêu chảy.
    3. Pha hỗn hợp dung dịch gồm nước đã qua xử lý và một ít đá phấn, than hoạt tính, hoặc xương khô. Nếu bạn có bã táo hoặc vỏ của trái cây họ cam quýt, hãy thêm vào hỗn hợp một lượng vừa đủ để tăng tính hiệu quả. Dùng 2 muỗng dung dịch mỗi 2 tiếng cho đến khi biểu hiện bệnh lý thuyên giảm hoặc khỏi hẳn.
      LƯU Ý: Bạn nên bổ sung nhiều chất lỏng cho cơ thể để bù lại lượng nước đã mất.

TRÁNH BỊ BỆNH

 

Trong hoàn cảnh sinh tồn, tính nguy hiểm của bệnh tật tăng lên gấp bội. Áp dụng các chỉ dẫn cơ bản trong Hình 41 cho phép bạn có thể bảo vệ sức khỏe của mình cũng như của những thành viên khác trong đội.

CÁC LOẠI THUỐC THẢO DƯỢC

 

Hiện nay các loại thuốc và trang thiết bị thí nghiệm hiện đại đã làm mờ đi phương pháp chữa bệnh cổ truyền của các “thầy lang” thời xưa – bắt mạch chẩn đoán, thường thức chung và một số phương pháp điều trị thô sơ các loại bệnh. Tuy vậy rất nhiều nơi trên thế giới con người vẫn còn tìm đến các thầy mo, thầy lang ở địa phương để chữa bệnh. Rất nhiều loại thảo dược (thực vật) và liệu pháp điều trị mà các thầy lang dùng có hiệu quả giống như những loại thuốc hiện đại trên thị trường bởi trên thực tế, nhiều loại thuốc bây giờ được điều chế từ các loại thảo dược. Ví dụ, phần xơ màu trắng của vỏ trái cây họ cam quýt và phần cùi táo (bã táo) còn lại sau khi ép lấy nước có chứa thành phần pectin. Tuy nhiên khi sử dụng các loại thuốc thảo dược bạn cần hết sức thận trọng và chỉ sử dụng khi các nguồn cung y tế hạn chế bởi có nhiều loại thảo dược rất nguy hiểm, có thể dẫn đến những thiệt hại không mong muốn tới cơ thể và thậm chí tử vong. Ví dụ như một liều lượng nhỏ rễ cây nữ lang có hiệu quả trong việc điều trị chứng đau đầu và mất ngủ, nhưng nếu liều lượng này vượt quá ½ thìa cà phê mỗi ngày, rễ cây nữ lang sẽ khiến tình trạng đau đầu càng thêm trầm trọng và có nguy cơ xuất hiện ảo giác.

Hình 11. Hướng dẫn vệ sinh cá nhân.

BÀI TẬP ÔN TẬP

YÊU CẦU: Hoàn thành các bài tập sau bằng cách chọn câu trả lời đúng:

 

  1. Yếu tố cần thiết để ngăn ngừa sự lây nhiễm bệnh trong hoàn cảnh sinh tồn là
    1. vệ sinh sạch sẽ.
    2. thực phẩm sạch.
    3. bộ sơ cứu y tế.
    4. quần áo bảo hộ.
  2. Trong môi trường sinh tồn, bạn có thể đánh răng bằng cách
    1. ngậm hút một viên sỏi.
    2. nhai một nhánh cây nhỏ.
    3. nhai rễ cây họ liễu.
    4. cọ xát nướu và răng với sỏi hạt cát.

 

  1. Trong hoàn cảnh sinh tồn nên dành ra bao nhiêu thời gian để nghỉ ngơi?

 

  1. 10 phút mỗi giờ
  2. 15 phút mỗi giờ
  3. một tiếng mỗi bốn giờ
  4. 30 phút mỗi bốn giờ
  1. Thực hiện mở sụn nhẫn giáp trong trường hợp nguy hiểm tính mạng như
    1. gãy cổ.
    2. xuất huyết nghiêm trọng.
    3. chấn thương cổ nghiêm trọng.
    4. tắc nghẽn đường hô hấp trên.
  2. Trong trường hợp không có aspirin, bạn có thể dùng thứ gì để giảm đau?
    1. cỏ đuôi mèo
    2. hành dại
    3. trà lá thông
    4. trà vỏ cây liễu
  3. Với những chấn thương liên quan đến hiện tượng ruột bị đẩy ra ngoài cơ thể,
    1. để vết thương khô tự nhiên.
    2. dùng băng gạc lớn băng bó phần ruột hở.
    3. đưa phần ruột đùn bên ngoài trở lại khoang bụng.
    4. làm sạch phần ruột bằng nước hoặc nước tiểu và đẩy phần ruột đùn trở lại khoang bụng.
  4. Phương pháp điều trị hiệu quả đối với ngộ độc thực phẩm trong hoàn cảnh sinh tồn là ăn một lượng nhỏ
    1. muối iot.
    2. đầu bút chì.
    3. phân mối.
    4. than mịn, sạch.
ĐÁP ÁN ÔN TẬP
 

1. A.

 

(phần

 

3)

2. B. (phần 4a)
3. A. (phần 7b)
4. D. (phần 8a)
5. D. (phần 8c(2))
6. B. (phần 10b)
7. D. (phần 12a)

 

Leave a comment