CÁC KHÍA CẠNH TÂM LÝ CỦA SỰ SINH TỒN

NHIỆM VỤ:     9103.01-0002, Duy trì Năng lực thể chất để Sinh tồn.

9103.01-0003, Áp dụng Bộ Quy tắc Ứng xử như một Cẩm nang hành vi sinh tồn.

 

MỤC TIÊU:     Bạn sẽ có thể mô tả các khía cạnh của sự sinh tồn bao gồm các nhân tố ảnh hưởng, phản ứng cảm xúc và ý chí sống sót.

 

ĐIỀU KIỆN:    Bạn có thể sử dụng nội dung bài học và tài liệu tham khảo để hoàn thành bài tập ôn tập.

 

TIÊU CHUẨN: Bạn cần trả lời đúng ít nhất 5 trong số 7 câu hỏi bài tập ôn tập.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:        ARs 95-17 (Tháng 5 84), 350-30 (Tháng 12 85), 525-90 (Tháng 11 71, chỉnh sửa lần 1 và 2); AFM 64-5 (Tháng 9 85); FMs 1-302 (Tháng 9 83, chỉnh sửa lần 1), 20-150 (Jul 73, chỉnh sửa lần 1 đến 5), 21-76(Tháng 3 86); và Chỉ thị DOD 1300.7 (Tháng 12 84).

 

NỘI DUNG BÀI HỌC

TỔNG QUAN

  1. Các thành viên trong một đội khi đối mặt với tình huống sinh tồn phải có nhận thức rõ rằng việc đối phó với các khía cạnh tâm lý của việc sinh tồn quan trọng không kém việc xoay sở với các nhân tố từ môi trường. Trong hầu hết mọi trường hợp sinh tồn, đội đó sẽ ở trong một môi trường có thể cung cấp sự sống. Những người sống sót sẽ đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp bởi họ không thực sự mong đợi được cứu viện hoặc hạ cánh ở trong rừng, trên biển hay bất cứ nơi nào khác. Dù có chuẩn bị kỹ lưỡng đến đâu, đội của bạn đều có thể không bao giờ hoàn toàn thuyết phục được bản thân rằng những vấn đề đó có thể xảy ra với họ. Tuy nhiên, các số liệu thống kê đã chỉ ra rằng điều đó có thể xảy ra. Trước khi các thành viên trong đội học về các khía cạnh về bản chất của việc sinh tồn, họ phải có nhận thức về các vấn đề tâm lý có thể xảy ra và tìm ra các biện pháp nếu muốn tiếp tục sống sót.
  2. Những người còn sống sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào trạng thái cảm xúc hơn là tình hình thời tiết, địa hình, kẻ thù, tính chất khẩn cấp của chuyến bay… Việc họ sẽ hoảng loạn vì sợ hãi hay tận dụng nỗi sợ như một liều thuốc kích thích bộc lộ sự sắc bén phụ thuộc nhiều vào phản ứng của người sống sót đối với tình huống hơn là phụ thuộc vào chính tình huống đó. Một số trạng thái phản ứng phổ biến nhất với sự căng thẳng được trình bày ở phần II.
  3. Tất cả các yếu tố tâm lý đều có thể được khắc phục nếu những người sống sót có thể nhận ra vấn đề, tìm ra giải pháp, quyết định cách thức hành động, hoàn thành và đánh giá kết quả một cách hợp lý. Có lẽ công đoạn khó khăn nhất là quyết định cách thức hành động sao cho thích hợp, những người sống sót có thể sẽ phải đối mặt với một hoặc nhiều vấn đề tâm lý, những vấn đề này khá nguy hiểm và phải được kiểm soát hoặc đối phó chặt chẽ và hiệu quả để có thể tiếp tục sống sót.
  4. Những người sống sót không có lựa chọn chào đón hay trốn tránh số phận. Họ bị mắc kẹt trong một thế giới bị trị hoàn toàn – một thế giới đầy rẫy sự thù địch với sự sống và bất cứ dấu hiệu nào của phẩm giá và sự phản kháng. Sinh tồn không phải một nhiệm vụ dễ dàng, nhưng không phải một nhiệm vụ bất khả thi. Ý chí tồn tại là một trong những chìa khóa giúp một trở về thành công.

Mục I. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

STRESS

  1. Các khía cạnh về cảm xúc gắn liền với sự sinh tồn phải được nắm bắt một cách triệt để giống như các điều kiện và thiết bị cần thiết để sinh tồn. Một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại trong một tình huống sống còn là trạng thái tâm lý của mỗi cá nhân. Duy trì cái nhìn ổn định phụ thuộc vào khả năng ứng phó với ngoại cảnh của mỗi cá nhân. Một số yếu tố ngoại cảnh bao gồm:
  1. Có tri thức về các dấu hiệu tâm sinh lý khác nhau ảnh hưởng như thế nào đến nhu cầu cơ thể và tâm lý của con người.
  2. Điều chỉnh trạng thái tâm sinh lý trong các tình huống căng thẳng.
  3. Biết giới hạn chịu đựng tâm sinh lý của bản thân.
  4. Gây ảnh hưởng tích cực với bạn đồng hành.
    1. Cơ chế sinh học của mỗi người hỗ trợ việc thích ứng với căng thẳng. Những thay đổi của cơ thể do sợ hãi và tức giận có xu hướng làm tăng tính cảnh giác và cung cấp thêm năng lượng để chạy trốn hoặc chiến đấu. Nhưng những cơ chế này và một vài yếu tố khác có thể sẽ cản trở con người khi ở trong các điều kiện sinh tồn. Ví dụ, một người sống sót trên biển có thể tạm thời mất tỉnh táo và uống nước biển để giải khát; những kẻ đang tránh né trên địa bàn kẻ thù có thể bị lộ diện hoặc bị bắt khi bất chấp đi tìm kiếm thức ăn do sự thúc đẩy của cơn đói. Những ví dụ này minh họa những phản ứng thông thường của con người với căng thẳng có thể tạo ra rắc rối cho người sống sót.
    2. Hai trong số những mối đe dọa lớn nhất đối với việc duy trì sự sống đó là nhượng bộ trước thoải mái và tính thờ ơ. Để tồn tại, đây là hai thái độ người sống sót cần phải tránh, tập trung lập kế hoạch và nỗ lực đáp ứng những nhu cầu cơ bản của sự sống.
  5. Sự thoải mái. Nhiều người coi thoải mái là nhu cầu lớn nhất, nhưng nó không phải nhu cầu thiết yếu trong hoàn cảnh sinh tồn. Những người sống sót phải ý thức được giá trị của sự sống hơn sự thoải mái và phải sẵn sàng chịu đựng cái nóng, bụi bẩn, đau đớn, cơn đói, ngứa và bất kỳ sự khó chịu nào khác. Ý thức được khó chịu chỉ là tạm thời sẽ giúp người sống sót tập trung hơn vào các hành động thiết yếu.
  6. Tính thờ ơ. Khi ý chí chiến đấu dần dần giảm đi, cơn buồn ngủ, tê liệt tinh thần và thái độ dửng dưng sẽ dẫn đến tính thờ ơ vô cảm. Cảm xúc này xuất hiện chậm rãi và mài mòn đi ý chí sống sót của con người. Yếu tố thể chất cũng góp phần gây ra thái độ hờ hững này. Mệt mỏi, suy nhược, chấn thương, mất chất trong cơ thể (mất nước) hoặc kiệt sức do tiếp nhận những ảnh hưởng trên là tất cả nguyên nhân có thể dẫn đến tính lãnh cảm này. Có kế hoạch phù hợp và quyết định đúng đắn có thể giúp người sống sót tránh được những tình trạng này. Cuối cùng, người sống sót cũng phải theo dõi kịp thời các dấu hiệu của thờ ơ của đông bạn để kịp thời ngăn chặn. Các dấu hiệu của tính thờ ơ bao gồm trầm mặc, cam chịu, ít giao tiếp, chán ăn và chủ động rút lui khỏi đoàn đội. Các biện pháp phòng ngừa bao gồm các hoạt động duy trì tinh thần của nhóm, lập kế hoạch và nhận được sự ủng hộ của tất cả thành viên.

Nhiều triệu chứng căng thẳng gây ra các chuỗi phản ứng thông thường đều có thể được phát hiện và xử lý thích hợp trong các tình huống sống còn. Người sống sót phải hiểu rõ rằng căng thẳng và phản ứng thường xuất hiện cùng nhau. Mặc dù những người sống sót phải đối mặt với nhiều căng thẳng khác nhau nhưng sự căng thẳng thường biểu hiện trong các tình huống sau: đau đớn, đói, mệt mỏi, thất vọng, áp lực, nóng lạnh, bị cô lập, bất an, mất ngủ, thiếu tự tin, khát và mất nước, mất sự tự chủ.

NỖI ĐAU

  1. Cảm giác đau, cũng giống như cơn sốt, là một tín hiệu cảnh báo chấn thương hoặc tổn thương một bộ phận nào đó trên cơ thể. Những cơn đau gây khó chịu nhưng bản chất không có hại hay nguy hiểm. Nó có thể được kiểm soát, và trong một số tình huống cực kỳ nguy hiểm, việc sinh tồn phải được ưu tiên hơn việc nhượng bộ trước cơn đau.
  2. Chức năng sinh học của cơn đau là bảo vệ bộ phận bị thương bằng cách phát tín hiệu cần được nghỉ ngơi hoặc tránh sử dụng phần cơ thể bị thương đó. Trong các tình huống sinh tồn, các dấu hiệu của cơn đau bình thường có thể bỏ qua để đáp ứng các nhu cầu khác quan trọng hơn. Con người được biết đến với khả năng chiến đấu với đôi bàn tay gãy, chạy bằng mắt cá chân bị gãy hoặc bị bong gân, điều khiển máy bay hạ cánh dù hai bàn tay bị bỏng nặng, và có thể bỏ qua cơn đau trong thời gian tập trung cao độ với ý chí quyết tâm. Sự tập trung và nỗ lực cao độ thực sự có thể ngăn chặn hoặc giảm các cảm giác đau.
  3. Một người sống sót phải có những hiểu biết sau về cơn đau. Người sống sót có thể di chuyển để tồn tại bất chấp những cơn đau. Cơn đau có thể giảm đi bằng cách thấu hiểu nguồn gốc và bản chất của nó nhận ra nó chỉ là sự khó chịu để có thể chịu đựng được; tập trung vào những nhu cầu thiết yếu khác như suy nghĩ, lập kế hoạch, liên tục bận rộn và có sự tự tin cùng tự tôn. Khi những mục tiêu cá nhân (duy trì sự sống, danh dự, và trở về) được đặt lên hàng đầu, con người có thể chịu đựng được hầu hết mọi thứ.

Hình 17. Nỗi đau

CƠN KHÁT VÀ SỰ MẤT NƯỚC

  1. Thiếu nước và những vấn đề đi kèm với cái khát và sự mất nước là một trong những vấn đề nan giải nhất mà người sinh tồn gặp phải. Khát nước, giống như sự sợ hãi và đau đớn, có thể chịu đựng được nếu có ý chí mạnh mẽ cùng với sự điềm tĩnh và hành động không thừa thãi. Mặc dù là cơn khát báo hiệu cho cơ thể của ta cần bổ sung nước, nhưng nó không cho ta biết là bao nhiêu. Nếu một người uống đủ nước để thỏa mãn cơn khát của mình, vẫn có khả năng để dần dần bị mất nước. Ta có thể ngăn ngừa cơn khát và sự suy nhược do mất nước nếu uống nước đầy đủ bất cứ lúc nào có thể, đặc biệt là khi đang ăn (Hình 18).
  2. Khi lượng nước trong cơ thể không được duy trì, cơ thể sẽ bị khát và đi kèm những cảm giác khó chịu. Mất cân bằng nước trong cơ thể dẫn đến sự mất nước và cuối cùng là cái chết. Nhu cầu uống nước sẽ tăng cao nếu bản thân đang bị bệnh, sợ hãi hoặc hoạt động tay chân nặng nề.
  3. Sự mất nước gây khó khăn, làm trì trệ những hoạt động của cơ thể. Mất nước nhẹ có thể không có một dấu hiệu rõ ràng trong khi hoạt động, nhưng nếu duy trì sự mất nước, các chức năng và sự hoạt động của cơ thể trở nên suy nhược thấy rõ. Mất nước và cơn khát có thể khiến cơ thể tự ý hành động không hợp lý. Có một người từng miêu tả lại rằng:

“Thứ tiếp theo mà tôi nhớ đó chính là thức dậy bởi một cảm giác khát nước không thể nào quên. Cơ thể tôi bắt đầu tự ý di chuyển, và cuối cùng cũng tìm thấy một hồ nước.’’

‘’Chúng tôi cuối cùng cũng tìm được nước. Trong nước có hai con hươu chết, sừng của chúng bị khóa vào nhau. Chúng tôi nhảy xuống và uống. Quả thật phải nói, đây là những ngụm nước đã khát nhất cuộc đời tôi. Tôi không hề nghe được mùi hôi thối của xác hươu tí nào.’’

Mặc dù phòng ngừa là cách tốt nhất để tránh mất nước, nhưng hầu như mọi vấn đề như được giải tỏa một cách đơn giản bằng cách uống nước.

 

NÓNG VÀ LẠNH

Nhiệt độ cơ thể trung bình của người thường nằm trong khoảng 98.6 độ Fahrenheit (°F). Vẫn có một số trường hợp sống sót với nhiệt độ cơ thể khoảng 20°F dưới mức bình thường và 8°F trên mức bình thường. Tuy vậy, dưới bất cứ độ lệch nào, cho dù chỉ 1 hoặc 2 độ, hiệu quả hoạt động cơ thể sẽ giảm.

  1. Lạnh hoặc stress ở một mức độ nhẹ cũng làm giảm hiệu năng hoạt động. Cái lạnh làm đầu óc trở nên tê dại, giảm thiểu ý chí để làm bất cứ việc gì trừ việc làm ấm cơ thể.  Cái lạnh làm tê dại cơ thể bằng cách giảm thiểu lượng máu chảy vào tứ chi; điều này khiến ta rất dễ bị buồn ngủ. Những người sinh tồn đã phải chịu đựng sự ẩm ướt và lạnh giá thông qua thức ăn, nơi ở, các hoạt động cơ thể và quy trình vệ sinh cơ thể. Hãy mặc đồ quần áo thích hợp và chuẩn bị những dụng cụ sinh tồn hợp lý ở các vùng khí hậu lạnh để gia tăng sự sống sót của bản thân.

    Có một người đã từng miêu tả cái lạnh và những ảnh hưởng của nó.
    ‘’ Bởi vì cái lạnh của nước, năng lượng cơ thể của tôi mất đi liên tục và tất cả những gì tôi có thể làm chỉ là bám chặt tay vào một bên của cái bè, cố gắng giữ vững, và nhìn những máy bay cứu hộ bay ngang qua… Qua thời gian, sự tê dại ngày càng tăng… và làm suy nhược đầu óc của tôi.’’

    Một người khác diễn tả lại buổi tập huấn sinh tồn và miêu tả lại.
    ‘’Trong khoảng thời gian này, chân tôi bắt đầu cảm thấy lạnh. Tôi nhớ lại một phần của buổi tập huấn về việc chân bị tê cứng do lạnh, và tôi hành động ngay lập tức. Tôi suy nghĩ về đôi giày của mình, và với con dao sinh tồn, tôi cắt phần đáy của bộ đồ chống thấm của mình và kéo lấy chúng, che đi phần chân của mình. Hai bàn chân của tôi thấy ấm lên ngay lập tức, và phần cao su của bộ đồ chống thấm giúp giữ cho đế giày của tôi khô ráo.”

  • Tê dại chính là triệu chứng chính của việc tiếp xúc với lạnh, còn kiệt sức chính là triệu chứng chính của việc tiếp xúc với nhiệt độ cao. Hầu hết chúng ta có thể điều chỉnh cơ thể để thích nghi với nhiệt độ cao, bất kỳ đâu dù là trên lan can tàu biển hoặc trên một cánh đồng mùa gặt hái của thảo nguyên Kansas. Có thể tốn từ hai ngày cho đến một tuần trước khi hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, tim mạch và tuyến mồ hôi có thể thích nghi với khí hậu nóng. Giảm căng thẳng cũng hạn chế việc mất nước. Hơn nữa trong vấn đề nước, có nhiều vấn đề gây khó chịu và làm suy nhược hiệu quả cơ thể liên quan tới việc thay đổi đột ngột, từ buổi ban ngày siêu nắng nóng qua buổi ban đêm lạnh cóng. Chúng thường diễn ra ở các hoang mạc và những vùng đồng bằng. Chuẩn bị quần áo hợp lý và chỗ trú giúp giảm thiểu những tác động cực đoan (Ảnh 19).
  1. Mặt trời chói chang có ảnh hưởng rất lớn tới đôi mắt và da của chúng ta. Kính râm hoặc những vật dụng bảo vệ mắt là rất cần thiết khi tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng hoặc sự phản quang của địa hình. Da ngâm cũng có thể bảo vệ chúng ta một ít; đồ bảo hộ cũng rất quan trọng.
  2. Đã có những trường hợp báo cáo rằng, những cơn gió trong mùa hè gây khó chịu cho những người sinh tồn. Gió tạo nên một tác nhân gây thêm khó chịu và gây khó khăn trên các khu vực hoang mạc vì gió thường kèm theo những hạt cát và đất. Ta có thể phòng tránh đất cát bằng cách quấn vải vào đầu, cắt một khe nhỏ ở phần mắt để cung cấp tầm nhìn.
  3. Sợ hãi cấp tính cũng đã xuất hiện khi các người sinh tồn di chuyển trong bão cát và bão tuyết. Sự sợ hãi này xuất hiện qua tác động của cơn bão và ảnh hưởng tầm nhìn phương hướng của cơn bão. Tìm và tạo một nơi trú ẩn để bảo vệ bản thân là một điều quan trọng.
  4. Khô miệng, mất ẩm, giảm chất nhầy trong miệng và mất nước nhanh chóng có thể là do chúng ta nói và thở bằng đường miệng. Những người sinh tồn phải học cách không được mở miệng trong khi di chuyển qua những cơn gió sa mạc và thời tiết khô lạnh.
  5. Ta có thể dễ dàng bắt gặp những ảo ảnh và ảo giác ở vùng sa mạc. Những thứ này không chỉ ảnh hưởng tới thị giác của chúng ta mà chúng thi thoảng có thể gây ra những trường hợp nghiêm trọng. Ở trên sa mạc, khoảng cách mà ta nhìn thấy thường gần hơn khoảng cách thực tế, và dưới một vài trường hợp nhất định, ảo ảnh thường cản trở tầm nhìn của chúng ta. Phản xạ ngược là hiện tượng thường thấy trên sa mạc.

CƠN ĐÓI

Một lượng thức ăn khá đáng kể (nhưng thường không được xem là thứ ăn được bởi những người sinh tồn) có khá nhiều ở xung quanh những điều kiện sống sót. Đói và thiếu ăn thường được bắt gặp hơn là khát và mất nước. Những kết quả nghiên cứu cho ta thấy rằng không có bằng chứng nào về di chứng vĩnh cửu và giảm thiểu khả năng tâm lý trong việc nhịn ăn ngắn hạn hoặc dài hạn (Hình 20). Nghiên cứu về nạn đói Minnesota trong Thế chiến thứ 2 cho ta biết những thay đổi về hành vi ở Hình 21.

  1. Trong một số cuộc sinh tồn, xâm lược, đào tẩu, cơn đói thường bị lãng quên. Những người sống sót đã di chuyển một quãng đường dài mà không hề ăn hay nhận ra cơn đói của bản thân. Hãy cố gắng để tìm kiếm và tiêu thụ thức ăn để giảm thiểu stress do cơn đói mang lại. Thể chất và tinh thần được sẽ được phục hồi khi có thức ăn và môi trường bảo vệ. Trở về trạng thái bình thường rất tốn thời gian, và chúng còn tỉ lệ thuận với mức độ nghiêm trọng của sự thiếu ăn. Khi thiếu thức ăn lâu dài và chỉ uống nước, ta sẽ không cảm thấy đói trong vài ngày; sau khi đó, ta sẽ bị trầm cảm và dễ bị kích động. Xu hướng cá nhân vẫn là tìm kiếm thức ăn và ngăn chặn cơn đói. Việc này có thể tiếp tục nếu cá nhân đó có sức mạnh và tinh thần cứng cáp. Khi thức ăn khan hiếm, kể cả những tình bạn vững chắc cũng có thể đổ vỡ.

 

  1. Chán ăn cũng có thể gây nên cơn đói. Ý kiến của một nhóm bất lợi có thể làm nản lòng những cá nhân, khiến những cá nhân ấy không muốn thử các loại thức ăn lạ. Trong một vài nhóm, giới hạn ấy sẽ bị phá vỡ bởi một cá nhân chỉ muốn ăn một loại thức ăn cụ thể, không chịu nhịn ăn. Những cá nhân đơn độc chỉ có những định kiến ​​của bản thân sẽ dễ vượt qua và thường sẵn sàng thử những đồ ăn lạ hơn.

 

  1. Kiểm soát cơn đói trong tình trạng sinh tồn sẽ khá là dễ dàng nếu bạn có thể điều chỉnh bản thân và thích nghi với những điều kiện khó khăn. Một tù nhân đã từng nói rằng là thà ăn để sống còn hơn là cầu kỳ:

‘’Một số người thà chịu đói còn hơn là ăn. Đã từng có một món súp được nấu từ đầu của những con cừu, mắt của chúng nổi lềnh bềnh bên trên… Khi mà chúng bắt được tù nhân mới, tôi sẽ cố gắng để ngồi kế bên anh ta để ăn thức ăn mà anh ta từ chối.’’

 

 

 

 

SỰ THẤT VỌNG

  • Sự thất vọng xảy ra trong trường hợp một người không còn có thể tiếp tục cố gắng khi gặp nhiều trở ngại trên con đường đi tới mục tiêu hoặc là vì họ đã đặt mục tiêu thiếu thực tế. Khi một ai đó cảm thấy giá trị của mình hoặc sự tự tôn bị mất đi thì cũng là lúc sự thất vọng bên trong họ sẽ xuất hiện. (Hình 22)
  1. Sự thất vọng có thể đến từ môi trường xung quanh hoặc là từ thế giới nội tâm bên trong của một người. Điều đó thường là lý do của những cơn giận dữ và đi kèm theo đó là xu hướng tấn công và mong muốn loại bỏ những trở ngại cho mục tiêu đã đặt ra. Sự thất vọng có thể được kiểm soát bằng cách truyền năng lượng vào một mục tiêu tích cực, có thể đạt được và đáng giá với nỗ lực. Những người có khả năng chinh phục được mục tiêu là những người hoàn thành những phần công việc đơn giản trước khi thử sức với những công việc thách thức hơn. Cách này giúp làm giảm sự thất vọng và tạo ra sự tự tin cho cá nhân.

SỰ KIỆT SỨC

Trong một tình huống sinh tồn, một người sống sót phải liên tục chống chọi với sự mệt nhọc và những căng thẳng kèm theo và mất năng suất làm việc. Người này phải nhận thức được sự nguy hiểm của việc gắng sức quá mức. Có nhiều trường hợp, một người sống sót đã từng mắc phải sự căng thẳng và giảm năng suất làm việc bởi vì nhiều đợt căng thẳng khác tích tụ lại với nhau. Một người có thể sinh tồn là người có khả năng tự đánh giá bản thân mình trong việc đi lại, mang vác, nâng hay làm bất kỳ những công việc nào mang tính chất cần thiết và đồng thời cũng lập kế hoạch và hành động dựa trên kế hoạch đã đề ra. Khi gặp phải trường hợp khẩn cấp, có thể cần phải gắng sức đáng kể để đối phó với tình huống. Nếu một cá thể nào đó hiểu được rằng sự mệt mỏi cũng như thái độ và cảm giác được tạo ra bởi rất nhiều sự nỗ lực bị tiêu hao, thì người đó nên có thể sử dụng nguồn năng lượng dự trữ sẵn có khi cần thiết rất tốt (Hình 23).

Hình 23. Mệt mỏi

  • Để có thể sinh tồn thì phải tránh sự kiệt quệ bởi vì nó có thể sẽ dẫn đến nhiều thay đổi về tâm sinh lý của một người. Một người có thể sống sót tốt là người có khả năng phân biệt khi nào là lúc mình đang kiệt sức và lúc nào mình đang chỉ cảm thấy mệt và không thoải mái. Tuy biết rằng một người bình thường không thể làm việc quá mức đến kiệt quệ, nhưng trong một vài trường hợp khẩn cấp thì phải bất chấp sự mệt mỏi mà hoàn thành công việc.
    1. Nghỉ ngơi là điều cơ bản nhất nên làm khi mệt mỏi và cũng quan trọng trong việc chống lại sự mệt mỏi kéo dài. Nghỉ ngơi (đặc biệt là sau khi đã nỗ lực đến mức kiệt sức) là vô cùng cần thiết và phải nghỉ ngơi đủ để cơ thể có thể phục hồi sức lực hoàn toàn. Nếu không sự mệt mỏi sẽ tích tụ lại và cần nhiều thời gian hơn để hồi phục. Khi mới bắt đầu cảm thấy mệt, nghỉ ngơi hợp lý giúp phục hồi nhanh chóng tình trạng mệt mỏi về cơ và tinh thần. Ngủ là hình thức nghỉ ngơi cơ bản và tốt nhất để phục hồi sau mệt mỏi, hầu như không cần phải làm gì thêm nữa.
    2. Nghỉ ngắn, trong thời gian căng thẳng kéo dài, có thể cải thiện năng suất làm việc. Nghỉ ngắn tạo cơ hội phục hồi một phần sức lực sau khi đã kiệt sức và giúp giảm tiêu hao năng lượng.Chỉ cần tận dụng thời gian nghỉ ngơi một cách hiệu quả cũng có thể làm hiệu quả làm việc được nâng cao. Sự nhàm chán được giải tỏa bằng cách phá vỡ sự đồng nhất và đơn điệu của các công việc đảm nhận. Từ đó, thời gian dành cho việc nghỉ ngơi sẽ giúp tăng tinh thần và động lực.
    3. Những người có khả năng sinh tồn nên nghỉ ngơi trước khi năng suất bắt đầu giảm. Nếu thời gian dành cho nghỉ ngơi nhiều hơn, thì không thời gian dành cho việc hồi sức sẽ giảm tương ứng. Khi vắt kiệt sức trong thời gian dài và tần suất cao, nên nghỉ ngơi thường xuyên hơn.Trong lúc này, những việc làm tạo cảm giác thư giảng là hiệu quả nhất . Nếu làm việc bằng đầu óc, tập thể dục nhẹ nhàng có thể giúp thư giãn hơn. Khi công việc trở nên nhàm chán,  thay đổi bằng hoạt động khác hoặc trò chuyện và trở nên hài hước là những cách thư giãn hiệu quả. Khi quyết định số lượng và tần suất của các khoảng thời gian nghỉ ngơi, phải cân nhắc sự mất mát hiệu quả do nỗ lực nhiều giờ hơn so với những đòi hỏi tuyệt đối của tình huống cấp bách cho sự tồn tại.
    4. Có thể giảm mệt mỏi bằng cách làm việc “thông minh hơn”. Những cách thực tế có thể thực hiện bao gồm điều chỉnh nhịp độ của nỗ lực (cân bằng trách nhiệm nặng nề, thứ hạng  và khoảng thời gian) và điều chỉnh kỹ thuật làm việc. So với đi nhanh, đi bộ với tốc độ bình thường  sẽ tiết kiệm sức lực hơn. Cách thức thực hiện công việc có ảnh hưởng lớn đến việc giảm mệt mỏi. Kinh tế của nỗ lực là quan trọng nhất. Các chuyển động nhịp nhàng phù hợp với nhiệm vụ là tốt nhất. Điều tốt nhất để cân bằng sức khỏe và kinh tế là giữ tốc độ chuyển động nhịp nhàng đối với những công việc không cần phải quá nhanh nhẹn.
    5. Hợp tác, hỗ trợ nhóm lẫn nhau và năng lực lãnh đạo là những yếu tố quan trọng trong việc duy trì tinh thần và hiệu quả của nhóm. Những yếu tố này giúp làm giảm căng thẳng và mệt mỏi. Một người có khả năng tồn tại tốt thường cảm thấy mệt mỏi và chán ngắt trước khi đạt đến giới hạn sinh lý. Việc cảm thấy mệt mỏi không chỉ liên quan đến phản ứng thể chất đối đối với sự nỗ lực, mà còn là những thay đổi tinh tế trong thái độ và động lực. Hãy nhớ rằng, một người có năng lượng dự trữ sẽ đối phó với tình huống khẩn cấp quan trọng rất hiệu quả, ngay cả khi cảm thấy rất hết sức sống và mệt mỏi.
  • Cũng như các trường hợp căng thẳng khác, chỉ một mức độ mệt mỏi vừa phải cũng làm giảm hiệu quả. Để kiểm soát sự kiệt sức, tuân theo một chương trình nghỉ ngơi định kỳ là một lựa chọn hợp lý và khôn ngoan. Vì mục tiêu chính là mong muốn được liên lạc với các người bạn thân thiện, những kẻ sống sót có thể đã đánh giá quá cao sức mạnh của họ và có nguy cơ kiệt sức. Mặt khác, không một cá nhân bị cô lập hay một người lãnh đạo nhóm nào nên đánh giá thấp năng lực của cá nhân hoặc nhóm trên cơ sở của sự cạn kiệt sức lao động. Cơ sở chính xác duy nhất để phán đoán phải được thu thập từ quá trình đào tạo và kinh nghiệm trong quá khứ. Trong đào tạo, một người nên hình thành đánh giá ​​về năng lực cá nhân của người khác dựa trên kinh nghiệm thực tế. Tương tự như vậy, trưởng nhóm phải đưa ra ý kiến ​​về năng lực của các thành viên trong nhóm của mình như thế. Nhóm được trích dẫn dưới đây không suy nghĩ rằng:
    “Khi màn đêm buông xuống và bao trùm lấy chúng tôi hoàn toàn. Chúng tôi quyết định cuốn mình vào máng thay vì tìm nơi trú ẩn. Chúng tôi đã quá mệt mỏi ngay cả trong việc nhóm lửa. Chúng tôi chỉ việc cắt một vài quả thông, cuộn mình trong ni lông và đi ngủ. . . và vì vậy, tất nhiên, trời đổ mưa, và mưa không hề nhẹ.. Chúng tôi đứng đó cho đến khi ướt sũng, và sau đó chúng tôi vật lộn ra ngoài và tìm một nơi trú ẩn khác. Vì trời tối đen như mực, chúng tôi không lấy được nước sạch ra khỏi mán, nên nước không chảy hết. Rất nhiều trong số đó đã được thông qua. Các khớp hông và chân của chúng tôi đau nhức như thể chúng tôi bị thấp khớp cấp tính. Bị ướt và lạnh làm nổi lên nỗi đau.Cứ mỗi mười phút là chúng tôi phải thay đổi vị trí, sau khi nghiến răng chịu đựng lâu như vậy. “

MẤT NGỦ

Những tác động từ mất ngủ có liên quan mật thiết đến sự kiệt sức. Ngủ trái giờ,  hay  ngủ trong những hoàn cảnh lạ, hoặc thiếu ngủ hay thường xuyên mất của diễn ra có thể khiến một người phản ứng bằng cách cảm thấy mệt mỏi, cáu kỉnh và căng thẳng về cảm xúc và giảm hiệu quả trong công việc. Mức độ phản ứng của một cá nhân này còn phụ thuộc vào mức độ xáo trộn trong giấc ngủ và các yếu tố căng thẳng khác có thể xảy ra (Hình 24).

Hình 24. Mất ngủ

  1. Động lực mạnh mẽ là một trong những yếu tố chính giúp bù đắp những ảnh hưởng nghiêm trọng của việc mất ngủ. Điều hòa thể chất và tinh thần vượt trội, cơ hội để nghỉ ngơi, thức ăn và nước uống, và những người bạn đồng hành giúp bạn chịu đựng tình trạng thiếu ngủ. Nếu một người ở trong tình trạng thể chất và tinh thần tốt, tình trạng thiếu ngủ có thể kéo dài từ năm ngày trở lên mà không bị ảnh hưởng gì, mặc dù hiệu quả trong giai đoạn sau có thể kém. Một người phải học cách ngủ và nghỉ ngơi nhiều nhất có thể. Tác dụng phục hồi của giấc ngủ được cảm nhận ngay cả sau khi catnaps. Trong một số trường hợp, những người sống sót có thể cần phải tỉnh táo. Vận động, ăn, uống, hoạt động và trò chuyện là những cách một người có thể kích thích cơ thể tỉnh táo.
  2. Khi một người bị mất ngủ, cơn buồn ngủ thường xuất hiện từng đợt. Một người có thể đột nhiên buồn ngủ ngay sau khi cảm thấy tỉnh táo. Cảm giác đó sớm qua đi, và người đó tỉnh táo trở lại cho đến khi cơn buồn ngủ tiếp theo xuất hiện. Khi thời gian thiếu ngủ tăng lên, khoảng thời gian giữa các đợt buồn ngủ trở nên ngắn hơn. Nhu cầu ngủ có thể tăng cao sau một thời gian dài thiếu thốn khiến người ta trở nên tuyệt vọng và gây ra những việc bất cẩn hoặc nguy hiểm để thoát khỏi tình trạng căng thẳng này.

SỰ CÔ LẬP

Trong thời gian bị cô lập, những căng thẳng liên quan đến sự sinh tồn nghiêm trọng nhất là khi những người sống sót  đang trải qua sự cô đơn, bất lực và tuyệt vọng. Những người bình thường sẽ coi mối quan hệ của họ với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong quân đội và những người khác là điều hiển nhiên. Những kẻ sống sót sớm bắt đầu bỏ qua sự tương tác hàng ngày với những người khác. Giống như những căng thẳng khác, những tình trạng căng thẳng thế này có thể được khắc phục. Sự sống tách biệt với xã hội có thể được kiểm soát và vượt qua bằng kiến ​​thức, sự hiểu biết, các biện pháp đối phó có chủ ý và một ý chí kiên quyết để chống lại nó (Hình 25).

Hình 25. Sự Cô lập

SỰ BẤT AN

Bất an là cảm giác bất lực hoặc thấy thiếu thốn do những căng thẳng và lo lắng khác nhau gây ra. Những lo lắng này có thể do sự không chắc chắn về mục tiêu, năng lực và tương lai của cá nhân. Cảm giác bất an có thể có nhiều tác động khác nhau đến hành vi của bạn. Bạn nên thiết lập các mục tiêu đầy thách thức nhưng có thể đạt được. Bạn càng cảm thấy ổn về khả năng của bản thân có thể đạt được mục tiêu và đáp ứng đầy đủ các nhu cầu cá nhân, bạn càng ít cảm thấy bất an.

MẤT ĐI LÒNG TỰ TRỌNG

Mất lòng tự trọng có thể xảy ra khi trong tình trạng bị giam giữ. Lòng tự trọng là trạng thái hoặc phẩm chất của sự tự tôn và tự hào cá nhân. Những người sống sót thiếu hoặc mất lòng tự trọng có thể dẫn đến trầm cảm và thay đổi quan điểm cũng như mục tiêu. Sự sỉ nhục và các yếu tố khác do kẻ giam giữ gây ra có thể khiến những người sống sót nghi ngờ giá trị của họ. Sự sỉ nhục bắt nguồn từ cảm giác mất tự hào hoặc tự tôn do bị miệt thị hoặc bị sỉ nhục và có liên quan đến việc đánh mất lòng tự trọng. Tù nhân chiến tranh (PWs) phải duy trì niềm tự hào của họ.

Họ không được xấu hổ vì họ là tù nhân chiến tranh hoặc vì những điều xảy ra với họ khi trở thành những tù nhân thời chiến Những người sống sót từ chiến tranh bị mất mặt (với bản thân và với kẻ thù) trở nên dễ bị tổn thương hơn trước các nỗ lực khai thác của kẻ bắt giữ. Để giải quyết vấn đề này, những người sống sót nên cố gắng duy trì quan điểm đúng đắn về hoàn cảnh và bản thân. Cảm giác về giá trị bản thân của họ có thể được củng cố nếu họ nhớ lại cam kết ngụ ý trong Quy tắc Hạnh kiểm – những tù nhân chiến tranh sẽ không bị lãng quên (Hình 26).

Hình 26. Mất lòng tự trọng.

MẤT KHẢ NĂNG TỰ XÁC ĐỊNH

 

Một người có thể tự quyết định thì tương đối không bị kiểm soát hoặc dễ chịu ảnh hưởng từ bên ngoài lên hành động của mình. Trong xã hội hiện tại, sự kiểm soát và ảnh hưởng này là luật lệ và phong tục đến từ xã hội và cũng từ các yếu tố mà bản thân tự áp đặt trong nhân cách của chúng ta. Trong cùng tình huống sinh tồn nhưng các biện pháp tạo ra sự kiểm soát và ảnh hưởng có thể rất khác nhau. Những người sống sót có thể cảm thấy như thể là các sự kiện, hoàn cảnh và trong một số trường hợp, những người khác đang kiểm soát tình hình. Một số nguyên nhân có thể khiến các cá nhân cảm thấy rằng họ đã mất đi quyền tự quyết chính là kẻ giam giữ khắc nghiệt, tình trạng bị giam cầm, thời tiết xấu hoặc việc cứu hộ mất nhiều thời gian và đòi hỏi phải di chuyển nhiều. Sự thiếu khả năng tự quyết này do cá nhân tự nhận thức được nhiều hơn là xảy ra ngoài thực tế. Những người sống sót sau chiến tranh phải quyết định các yếu tố gây khó chịu sẽ ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần của họ như thế nào. Họ phải có sự tự tin, được bồi dưỡng bằng kinh nghiệm và rèn luyện để sống với cảm xúc và quyết định của mình. Họ cũng phải có đủ sự tự tin để chấp nhận trách nhiệm về cách họ cảm nhận và cách họ để những cảm xúc đó ảnh hưởng đến họ.

TRẦM CẢM

Đối với một người còn sống sót, trầm cảm là vấn đề tâm lý lớn nhất phải được chinh phục, vượt qua. Họ cần phải chấp nhận rằng mọi người đều có những lúc có tinh thần không ổn định. Những người đang trải qua thời gian dài buồn bã kéo dài hoặc cảm thấy tiêu cực là người đang bị trầm cảm. Một tâm trạng bình thường gắn liền với sự đau buồn, buồn bã, thất vọng hoặc cô đơn mà mọi người đều trải qua đôi khi cũng là trầm cảm. Hầu hết những thay đổi cảm xúc trong tâm trạng là tạm thời và không trở thành căn bệnh mãn tính. Những người sống sót mà đang bị trầm cảm có thể cảm thấy sợ hãi, tội lỗi hoặc bất lực. Họ có thể mất hứng thú với những nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Có nhiều trường hợp có dấu hiệu của nỗi đau, sự mệt mỏi, chán ăn hoặc các bệnh thể chất khác. Một số người trầm cảm sau khi chiến tranh kết thúc sẽ cố gắng gây tự gây thương tích cho chính mình hoặc tự sát (Hình 27).

  1. Các bác sĩ tâm lý có một số giả thuyết về nguyên nhân của chứng trầm cảm. Một số người cảm thấy rằng một người mà , trong cuộc sống hàng ngày và trong điều kiện bình thường, trải qua nhiều giai đoạn trầm cảm có thể đã gặp khó khăn trong tình huống phải đối mặt với sự sống còn. Trầm cảm là một vấn đề khó khăn nhất vì nó có thể ảnh hưởng đến một loạt các phản ứng tâm lý. Các yếu tố có củng cố lẫn nhau.

    VÍ DỤ: Sự mệt mỏi, kiệt sức có thể dẫn đến trầm cảm, trầm cảm có thể làm tăng cảm giác mệt mỏi, mệt mỏi dẫn đến trầm cảm sâu hơn, v.v.

 

  1. Trầm cảm thường bắt đầu sau khi một người còn sống sót sau cuộc chiến đã đáp ứng được các nhu cầu cơ bản để duy trì sự sống (nước, chỗ ở và thức ăn). Một khi những nhu cầu cơ bản này được đáp ứng, người đó thường có quá nhiều thời gian để tập trung vào quá khứ, tình trạng khó khăn hiện tại và các vấn đề trong tương lai. Người còn sống phải nhận thức được sự cần thiết của việc giữ cho tâm trí và cơ thể hoạt động để loại bỏ cảm giác chán nản. Một cách để duy trì sự bận rộn (hàng ngày) là kiểm tra và cải thiện nơi trú ẩn, các tín hiệu và thức ăn.

    CÁC KHÍA CẠNH TÂM LÝ CỦA SỰ SINH TỒN

    NHIỆM VỤ:     9103.01-0002, Duy trì Năng lực thể chất để Sinh tồn.

    9103.01-0003, Áp dụng Bộ Quy tắc Ứng xử như một Cẩm nang hành vi sinh tồn.

     

    MỤC TIÊU:     Bạn sẽ có thể mô tả các khía cạnh của sự sinh tồn bao gồm các nhân tố ảnh hưởng, phản ứng cảm xúc và ý chí sống sót.

     

    ĐIỀU KIỆN:    Bạn có thể sử dụng nội dung bài học và tài liệu tham khảo để hoàn thành bài tập ôn tập.

     

    TIÊU CHUẨN: Bạn cần trả lời đúng ít nhất 5 trong số 7 câu hỏi bài tập ôn tập.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:        ARs 95-17 (Tháng 5 84), 350-30 (Tháng 12 85), 525-90 (Tháng 11 71, chỉnh sửa lần 1 và 2); AFM 64-5 (Tháng 9 85); FMs 1-302 (Tháng 9 83, chỉnh sửa lần 1), 20-150 (Jul 73, chỉnh sửa lần 1 đến 5), 21-76(Tháng 3 86); và Chỉ thị DOD 1300.7 (Tháng 12 84).

     

    NỘI DUNG BÀI HỌC

    TỔNG QUAN

    1. Các thành viên trong một đội khi đối mặt với tình huống sinh tồn phải có nhận thức rõ rằng việc đối phó với các khía cạnh tâm lý của việc sinh tồn quan trọng không kém việc xoay sở với các nhân tố từ môi trường. Trong hầu hết mọi trường hợp sinh tồn, đội đó sẽ ở trong một môi trường có thể cung cấp sự sống. Những người sống sót sẽ đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp bởi họ không thực sự mong đợi được cứu viện hoặc hạ cánh ở trong rừng, trên biển hay bất cứ nơi nào khác. Dù có chuẩn bị kỹ lưỡng đến đâu, đội của bạn đều có thể không bao giờ hoàn toàn thuyết phục được bản thân rằng những vấn đề đó có thể xảy ra với họ. Tuy nhiên, các số liệu thống kê đã chỉ ra rằng điều đó có thể xảy ra. Trước khi các thành viên trong đội học về các khía cạnh về bản chất của việc sinh tồn, họ phải có nhận thức về các vấn đề tâm lý có thể xảy ra và tìm ra các biện pháp nếu muốn tiếp tục sống sót.
    2. Những người còn sống sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào trạng thái cảm xúc hơn là tình hình thời tiết, địa hình, kẻ thù, tính chất khẩn cấp của chuyến bay… Việc họ sẽ hoảng loạn vì sợ hãi hay tận dụng nỗi sợ như một liều thuốc kích thích bộc lộ sự sắc bén phụ thuộc nhiều vào phản ứng của người sống sót đối với tình huống hơn là phụ thuộc vào chính tình huống đó. Một số trạng thái phản ứng phổ biến nhất với sự căng thẳng được trình bày ở phần II.
    3. Tất cả các yếu tố tâm lý đều có thể được khắc phục nếu những người sống sót có thể nhận ra vấn đề, tìm ra giải pháp, quyết định cách thức hành động, hoàn thành và đánh giá kết quả một cách hợp lý. Có lẽ công đoạn khó khăn nhất là quyết định cách thức hành động sao cho thích hợp, những người sống sót có thể sẽ phải đối mặt với một hoặc nhiều vấn đề tâm lý, những vấn đề này khá nguy hiểm và phải được kiểm soát hoặc đối phó chặt chẽ và hiệu quả để có thể tiếp tục sống sót.
    4. Những người sống sót không có lựa chọn chào đón hay trốn tránh số phận. Họ bị mắc kẹt trong một thế giới bị trị hoàn toàn – một thế giới đầy rẫy sự thù địch với sự sống và bất cứ dấu hiệu nào của phẩm giá và sự phản kháng. Sinh tồn không phải một nhiệm vụ dễ dàng, nhưng không phải một nhiệm vụ bất khả thi. Ý chí tồn tại là một trong những chìa khóa giúp một trở về thành công.

    Mục I. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

    STRESS

    1. Các khía cạnh về cảm xúc gắn liền với sự sinh tồn phải được nắm bắt một cách triệt để giống như các điều kiện và thiết bị cần thiết để sinh tồn. Một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại trong một tình huống sống còn là trạng thái tâm lý của mỗi cá nhân. Duy trì cái nhìn ổn định phụ thuộc vào khả năng ứng phó với ngoại cảnh của mỗi cá nhân. Một số yếu tố ngoại cảnh bao gồm:
    1. Có tri thức về các dấu hiệu tâm sinh lý khác nhau ảnh hưởng như thế nào đến nhu cầu cơ thể và tâm lý của con người.
    2. Điều chỉnh trạng thái tâm sinh lý trong các tình huống căng thẳng.
    3. Biết giới hạn chịu đựng tâm sinh lý của bản thân.
    4. Gây ảnh hưởng tích cực với bạn đồng hành.
      1. Cơ chế sinh học của mỗi người hỗ trợ việc thích ứng với căng thẳng. Những thay đổi của cơ thể do sợ hãi và tức giận có xu hướng làm tăng tính cảnh giác và cung cấp thêm năng lượng để chạy trốn hoặc chiến đấu. Nhưng những cơ chế này và một vài yếu tố khác có thể sẽ cản trở con người khi ở trong các điều kiện sinh tồn. Ví dụ, một người sống sót trên biển có thể tạm thời mất tỉnh táo và uống nước biển để giải khát; những kẻ đang tránh né trên địa bàn kẻ thù có thể bị lộ diện hoặc bị bắt khi bất chấp đi tìm kiếm thức ăn do sự thúc đẩy của cơn đói. Những ví dụ này minh họa những phản ứng thông thường của con người với căng thẳng có thể tạo ra rắc rối cho người sống sót.
      2. Hai trong số những mối đe dọa lớn nhất đối với việc duy trì sự sống đó là nhượng bộ trước thoải mái và tính thờ ơ. Để tồn tại, đây là hai thái độ người sống sót cần phải tránh, tập trung lập kế hoạch và nỗ lực đáp ứng những nhu cầu cơ bản của sự sống.
    5. Sự thoải mái. Nhiều người coi thoải mái là nhu cầu lớn nhất, nhưng nó không phải nhu cầu thiết yếu trong hoàn cảnh sinh tồn. Những người sống sót phải ý thức được giá trị của sự sống hơn sự thoải mái và phải sẵn sàng chịu đựng cái nóng, bụi bẩn, đau đớn, cơn đói, ngứa và bất kỳ sự khó chịu nào khác. Ý thức được khó chịu chỉ là tạm thời sẽ giúp người sống sót tập trung hơn vào các hành động thiết yếu.
    6. Tính thờ ơ. Khi ý chí chiến đấu dần dần giảm đi, cơn buồn ngủ, tê liệt tinh thần và thái độ dửng dưng sẽ dẫn đến tính thờ ơ vô cảm. Cảm xúc này xuất hiện chậm rãi và mài mòn đi ý chí sống sót của con người. Yếu tố thể chất cũng góp phần gây ra thái độ hờ hững này. Mệt mỏi, suy nhược, chấn thương, mất chất trong cơ thể (mất nước) hoặc kiệt sức do tiếp nhận những ảnh hưởng trên là tất cả nguyên nhân có thể dẫn đến tính lãnh cảm này. Có kế hoạch phù hợp và quyết định đúng đắn có thể giúp người sống sót tránh được những tình trạng này. Cuối cùng, người sống sót cũng phải theo dõi kịp thời các dấu hiệu của thờ ơ của đông bạn để kịp thời ngăn chặn. Các dấu hiệu của tính thờ ơ bao gồm trầm mặc, cam chịu, ít giao tiếp, chán ăn và chủ động rút lui khỏi đoàn đội. Các biện pháp phòng ngừa bao gồm các hoạt động duy trì tinh thần của nhóm, lập kế hoạch và nhận được sự ủng hộ của tất cả thành viên.

    Nhiều triệu chứng căng thẳng gây ra các chuỗi phản ứng thông thường đều có thể được phát hiện và xử lý thích hợp trong các tình huống sống còn. Người sống sót phải hiểu rõ rằng căng thẳng và phản ứng thường xuất hiện cùng nhau. Mặc dù những người sống sót phải đối mặt với nhiều căng thẳng khác nhau nhưng sự căng thẳng thường biểu hiện trong các tình huống sau: đau đớn, đói, mệt mỏi, thất vọng, áp lực, nóng lạnh, bị cô lập, bất an, mất ngủ, thiếu tự tin, khát và mất nước, mất sự tự chủ.

    NỖI ĐAU

    1. Cảm giác đau, cũng giống như cơn sốt, là một tín hiệu cảnh báo chấn thương hoặc tổn thương một bộ phận nào đó trên cơ thể. Những cơn đau gây khó chịu nhưng bản chất không có hại hay nguy hiểm. Nó có thể được kiểm soát, và trong một số tình huống cực kỳ nguy hiểm, việc sinh tồn phải được ưu tiên hơn việc nhượng bộ trước cơn đau.
    2. Chức năng sinh học của cơn đau là bảo vệ bộ phận bị thương bằng cách phát tín hiệu cần được nghỉ ngơi hoặc tránh sử dụng phần cơ thể bị thương đó. Trong các tình huống sinh tồn, các dấu hiệu của cơn đau bình thường có thể bỏ qua để đáp ứng các nhu cầu khác quan trọng hơn. Con người được biết đến với khả năng chiến đấu với đôi bàn tay gãy, chạy bằng mắt cá chân bị gãy hoặc bị bong gân, điều khiển máy bay hạ cánh dù hai bàn tay bị bỏng nặng, và có thể bỏ qua cơn đau trong thời gian tập trung cao độ với ý chí quyết tâm. Sự tập trung và nỗ lực cao độ thực sự có thể ngăn chặn hoặc giảm các cảm giác đau.
    3. Một người sống sót phải có những hiểu biết sau về cơn đau. Người sống sót có thể di chuyển để tồn tại bất chấp những cơn đau. Cơn đau có thể giảm đi bằng cách thấu hiểu nguồn gốc và bản chất của nó nhận ra nó chỉ là sự khó chịu để có thể chịu đựng được; tập trung vào những nhu cầu thiết yếu khác như suy nghĩ, lập kế hoạch, liên tục bận rộn và có sự tự tin cùng tự tôn. Khi những mục tiêu cá nhân (duy trì sự sống, danh dự, và trở về) được đặt lên hàng đầu, con người có thể chịu đựng được hầu hết mọi thứ.

    Hình 17. Nỗi đau

    CƠN KHÁT VÀ SỰ MẤT NƯỚC

    1. Thiếu nước và những vấn đề đi kèm với cái khát và sự mất nước là một trong những vấn đề nan giải nhất mà người sinh tồn gặp phải. Khát nước, giống như sự sợ hãi và đau đớn, có thể chịu đựng được nếu có ý chí mạnh mẽ cùng với sự điềm tĩnh và hành động không thừa thãi. Mặc dù là cơn khát báo hiệu cho cơ thể của ta cần bổ sung nước, nhưng nó không cho ta biết là bao nhiêu. Nếu một người uống đủ nước để thỏa mãn cơn khát của mình, vẫn có khả năng để dần dần bị mất nước. Ta có thể ngăn ngừa cơn khát và sự suy nhược do mất nước nếu uống nước đầy đủ bất cứ lúc nào có thể, đặc biệt là khi đang ăn (Hình 18).
    2. Khi lượng nước trong cơ thể không được duy trì, cơ thể sẽ bị khát và đi kèm những cảm giác khó chịu. Mất cân bằng nước trong cơ thể dẫn đến sự mất nước và cuối cùng là cái chết. Nhu cầu uống nước sẽ tăng cao nếu bản thân đang bị bệnh, sợ hãi hoặc hoạt động tay chân nặng nề.
    3. Sự mất nước gây khó khăn, làm trì trệ những hoạt động của cơ thể. Mất nước nhẹ có thể không có một dấu hiệu rõ ràng trong khi hoạt động, nhưng nếu duy trì sự mất nước, các chức năng và sự hoạt động của cơ thể trở nên suy nhược thấy rõ. Mất nước và cơn khát có thể khiến cơ thể tự ý hành động không hợp lý. Có một người từng miêu tả lại rằng:

    “Thứ tiếp theo mà tôi nhớ đó chính là thức dậy bởi một cảm giác khát nước không thể nào quên. Cơ thể tôi bắt đầu tự ý di chuyển, và cuối cùng cũng tìm thấy một hồ nước.’’

    ‘’Chúng tôi cuối cùng cũng tìm được nước. Trong nước có hai con hươu chết, sừng của chúng bị khóa vào nhau. Chúng tôi nhảy xuống và uống. Quả thật phải nói, đây là những ngụm nước đã khát nhất cuộc đời tôi. Tôi không hề nghe được mùi hôi thối của xác hươu tí nào.’’

    Mặc dù phòng ngừa là cách tốt nhất để tránh mất nước, nhưng hầu như mọi vấn đề như được giải tỏa một cách đơn giản bằng cách uống nước.

     

    NÓNG VÀ LẠNH

    Nhiệt độ cơ thể trung bình của người thường nằm trong khoảng 98.6 độ Fahrenheit (°F). Vẫn có một số trường hợp sống sót với nhiệt độ cơ thể khoảng 20°F dưới mức bình thường và 8°F trên mức bình thường. Tuy vậy, dưới bất cứ độ lệch nào, cho dù chỉ 1 hoặc 2 độ, hiệu quả hoạt động cơ thể sẽ giảm.

    1. Lạnh hoặc stress ở một mức độ nhẹ cũng làm giảm hiệu năng hoạt động. Cái lạnh làm đầu óc trở nên tê dại, giảm thiểu ý chí để làm bất cứ việc gì trừ việc làm ấm cơ thể.  Cái lạnh làm tê dại cơ thể bằng cách giảm thiểu lượng máu chảy vào tứ chi; điều này khiến ta rất dễ bị buồn ngủ. Những người sinh tồn đã phải chịu đựng sự ẩm ướt và lạnh giá thông qua thức ăn, nơi ở, các hoạt động cơ thể và quy trình vệ sinh cơ thể. Hãy mặc đồ quần áo thích hợp và chuẩn bị những dụng cụ sinh tồn hợp lý ở các vùng khí hậu lạnh để gia tăng sự sống sót của bản thân.

      Có một người đã từng miêu tả cái lạnh và những ảnh hưởng của nó.
      ‘’ Bởi vì cái lạnh của nước, năng lượng cơ thể của tôi mất đi liên tục và tất cả những gì tôi có thể làm chỉ là bám chặt tay vào một bên của cái bè, cố gắng giữ vững, và nhìn những máy bay cứu hộ bay ngang qua… Qua thời gian, sự tê dại ngày càng tăng… và làm suy nhược đầu óc của tôi.’’

      Một người khác diễn tả lại buổi tập huấn sinh tồn và miêu tả lại.
      ‘’Trong khoảng thời gian này, chân tôi bắt đầu cảm thấy lạnh. Tôi nhớ lại một phần của buổi tập huấn về việc chân bị tê cứng do lạnh, và tôi hành động ngay lập tức. Tôi suy nghĩ về đôi giày của mình, và với con dao sinh tồn, tôi cắt phần đáy của bộ đồ chống thấm của mình và kéo lấy chúng, che đi phần chân của mình. Hai bàn chân của tôi thấy ấm lên ngay lập tức, và phần cao su của bộ đồ chống thấm giúp giữ cho đế giày của tôi khô ráo.”

    • Tê dại chính là triệu chứng chính của việc tiếp xúc với lạnh, còn kiệt sức chính là triệu chứng chính của việc tiếp xúc với nhiệt độ cao. Hầu hết chúng ta có thể điều chỉnh cơ thể để thích nghi với nhiệt độ cao, bất kỳ đâu dù là trên lan can tàu biển hoặc trên một cánh đồng mùa gặt hái của thảo nguyên Kansas. Có thể tốn từ hai ngày cho đến một tuần trước khi hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, tim mạch và tuyến mồ hôi có thể thích nghi với khí hậu nóng. Giảm căng thẳng cũng hạn chế việc mất nước. Hơn nữa trong vấn đề nước, có nhiều vấn đề gây khó chịu và làm suy nhược hiệu quả cơ thể liên quan tới việc thay đổi đột ngột, từ buổi ban ngày siêu nắng nóng qua buổi ban đêm lạnh cóng. Chúng thường diễn ra ở các hoang mạc và những vùng đồng bằng. Chuẩn bị quần áo hợp lý và chỗ trú giúp giảm thiểu những tác động cực đoan (Ảnh 19).
    1. Mặt trời chói chang có ảnh hưởng rất lớn tới đôi mắt và da của chúng ta. Kính râm hoặc những vật dụng bảo vệ mắt là rất cần thiết khi tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng hoặc sự phản quang của địa hình. Da ngâm cũng có thể bảo vệ chúng ta một ít; đồ bảo hộ cũng rất quan trọng.
    2. Đã có những trường hợp báo cáo rằng, những cơn gió trong mùa hè gây khó chịu cho những người sinh tồn. Gió tạo nên một tác nhân gây thêm khó chịu và gây khó khăn trên các khu vực hoang mạc vì gió thường kèm theo những hạt cát và đất. Ta có thể phòng tránh đất cát bằng cách quấn vải vào đầu, cắt một khe nhỏ ở phần mắt để cung cấp tầm nhìn.
    3. Sợ hãi cấp tính cũng đã xuất hiện khi các người sinh tồn di chuyển trong bão cát và bão tuyết. Sự sợ hãi này xuất hiện qua tác động của cơn bão và ảnh hưởng tầm nhìn phương hướng của cơn bão. Tìm và tạo một nơi trú ẩn để bảo vệ bản thân là một điều quan trọng.
    4. Khô miệng, mất ẩm, giảm chất nhầy trong miệng và mất nước nhanh chóng có thể là do chúng ta nói và thở bằng đường miệng. Những người sinh tồn phải học cách không được mở miệng trong khi di chuyển qua những cơn gió sa mạc và thời tiết khô lạnh.
    5. Ta có thể dễ dàng bắt gặp những ảo ảnh và ảo giác ở vùng sa mạc. Những thứ này không chỉ ảnh hưởng tới thị giác của chúng ta mà chúng thi thoảng có thể gây ra những trường hợp nghiêm trọng. Ở trên sa mạc, khoảng cách mà ta nhìn thấy thường gần hơn khoảng cách thực tế, và dưới một vài trường hợp nhất định, ảo ảnh thường cản trở tầm nhìn của chúng ta. Phản xạ ngược là hiện tượng thường thấy trên sa mạc.

    CƠN ĐÓI

    Một lượng thức ăn khá đáng kể (nhưng thường không được xem là thứ ăn được bởi những người sinh tồn) có khá nhiều ở xung quanh những điều kiện sống sót. Đói và thiếu ăn thường được bắt gặp hơn là khát và mất nước. Những kết quả nghiên cứu cho ta thấy rằng không có bằng chứng nào về di chứng vĩnh cửu và giảm thiểu khả năng tâm lý trong việc nhịn ăn ngắn hạn hoặc dài hạn (Hình 20). Nghiên cứu về nạn đói Minnesota trong Thế chiến thứ 2 cho ta biết những thay đổi về hành vi ở Hình 21.

    1. Trong một số cuộc sinh tồn, xâm lược, đào tẩu, cơn đói thường bị lãng quên. Những người sống sót đã di chuyển một quãng đường dài mà không hề ăn hay nhận ra cơn đói của bản thân. Hãy cố gắng để tìm kiếm và tiêu thụ thức ăn để giảm thiểu stress do cơn đói mang lại. Thể chất và tinh thần được sẽ được phục hồi khi có thức ăn và môi trường bảo vệ. Trở về trạng thái bình thường rất tốn thời gian, và chúng còn tỉ lệ thuận với mức độ nghiêm trọng của sự thiếu ăn. Khi thiếu thức ăn lâu dài và chỉ uống nước, ta sẽ không cảm thấy đói trong vài ngày; sau khi đó, ta sẽ bị trầm cảm và dễ bị kích động. Xu hướng cá nhân vẫn là tìm kiếm thức ăn và ngăn chặn cơn đói. Việc này có thể tiếp tục nếu cá nhân đó có sức mạnh và tinh thần cứng cáp. Khi thức ăn khan hiếm, kể cả những tình bạn vững chắc cũng có thể đổ vỡ.

     

    1. Chán ăn cũng có thể gây nên cơn đói. Ý kiến của một nhóm bất lợi có thể làm nản lòng những cá nhân, khiến những cá nhân ấy không muốn thử các loại thức ăn lạ. Trong một vài nhóm, giới hạn ấy sẽ bị phá vỡ bởi một cá nhân chỉ muốn ăn một loại thức ăn cụ thể, không chịu nhịn ăn. Những cá nhân đơn độc chỉ có những định kiến ​​của bản thân sẽ dễ vượt qua và thường sẵn sàng thử những đồ ăn lạ hơn.

     

    1. Kiểm soát cơn đói trong tình trạng sinh tồn sẽ khá là dễ dàng nếu bạn có thể điều chỉnh bản thân và thích nghi với những điều kiện khó khăn. Một tù nhân đã từng nói rằng là thà ăn để sống còn hơn là cầu kỳ:

    ‘’Một số người thà chịu đói còn hơn là ăn. Đã từng có một món súp được nấu từ đầu của những con cừu, mắt của chúng nổi lềnh bềnh bên trên… Khi mà chúng bắt được tù nhân mới, tôi sẽ cố gắng để ngồi kế bên anh ta để ăn thức ăn mà anh ta từ chối.’’

     

     

     

     

    SỰ THẤT VỌNG

    • Sự thất vọng xảy ra trong trường hợp một người không còn có thể tiếp tục cố gắng khi gặp nhiều trở ngại trên con đường đi tới mục tiêu hoặc là vì họ đã đặt mục tiêu thiếu thực tế. Khi một ai đó cảm thấy giá trị của mình hoặc sự tự tôn bị mất đi thì cũng là lúc sự thất vọng bên trong họ sẽ xuất hiện. (Hình 22)
    1. Sự thất vọng có thể đến từ môi trường xung quanh hoặc là từ thế giới nội tâm bên trong của một người. Điều đó thường là lý do của những cơn giận dữ và đi kèm theo đó là xu hướng tấn công và mong muốn loại bỏ những trở ngại cho mục tiêu đã đặt ra. Sự thất vọng có thể được kiểm soát bằng cách truyền năng lượng vào một mục tiêu tích cực, có thể đạt được và đáng giá với nỗ lực. Những người có khả năng chinh phục được mục tiêu là những người hoàn thành những phần công việc đơn giản trước khi thử sức với những công việc thách thức hơn. Cách này giúp làm giảm sự thất vọng và tạo ra sự tự tin cho cá nhân.

    SỰ KIỆT SỨC

    Trong một tình huống sinh tồn, một người sống sót phải liên tục chống chọi với sự mệt nhọc và những căng thẳng kèm theo và mất năng suất làm việc. Người này phải nhận thức được sự nguy hiểm của việc gắng sức quá mức. Có nhiều trường hợp, một người sống sót đã từng mắc phải sự căng thẳng và giảm năng suất làm việc bởi vì nhiều đợt căng thẳng khác tích tụ lại với nhau. Một người có thể sinh tồn là người có khả năng tự đánh giá bản thân mình trong việc đi lại, mang vác, nâng hay làm bất kỳ những công việc nào mang tính chất cần thiết và đồng thời cũng lập kế hoạch và hành động dựa trên kế hoạch đã đề ra. Khi gặp phải trường hợp khẩn cấp, có thể cần phải gắng sức đáng kể để đối phó với tình huống. Nếu một cá thể nào đó hiểu được rằng sự mệt mỏi cũng như thái độ và cảm giác được tạo ra bởi rất nhiều sự nỗ lực bị tiêu hao, thì người đó nên có thể sử dụng nguồn năng lượng dự trữ sẵn có khi cần thiết rất tốt (Hình 23).

    Hình 23. Mệt mỏi

    • Để có thể sinh tồn thì phải tránh sự kiệt quệ bởi vì nó có thể sẽ dẫn đến nhiều thay đổi về tâm sinh lý của một người. Một người có thể sống sót tốt là người có khả năng phân biệt khi nào là lúc mình đang kiệt sức và lúc nào mình đang chỉ cảm thấy mệt và không thoải mái. Tuy biết rằng một người bình thường không thể làm việc quá mức đến kiệt quệ, nhưng trong một vài trường hợp khẩn cấp thì phải bất chấp sự mệt mỏi mà hoàn thành công việc.
      1. Nghỉ ngơi là điều cơ bản nhất nên làm khi mệt mỏi và cũng quan trọng trong việc chống lại sự mệt mỏi kéo dài. Nghỉ ngơi (đặc biệt là sau khi đã nỗ lực đến mức kiệt sức) là vô cùng cần thiết và phải nghỉ ngơi đủ để cơ thể có thể phục hồi sức lực hoàn toàn. Nếu không sự mệt mỏi sẽ tích tụ lại và cần nhiều thời gian hơn để hồi phục. Khi mới bắt đầu cảm thấy mệt, nghỉ ngơi hợp lý giúp phục hồi nhanh chóng tình trạng mệt mỏi về cơ và tinh thần. Ngủ là hình thức nghỉ ngơi cơ bản và tốt nhất để phục hồi sau mệt mỏi, hầu như không cần phải làm gì thêm nữa.
      2. Nghỉ ngắn, trong thời gian căng thẳng kéo dài, có thể cải thiện năng suất làm việc. Nghỉ ngắn tạo cơ hội phục hồi một phần sức lực sau khi đã kiệt sức và giúp giảm tiêu hao năng lượng.Chỉ cần tận dụng thời gian nghỉ ngơi một cách hiệu quả cũng có thể làm hiệu quả làm việc được nâng cao. Sự nhàm chán được giải tỏa bằng cách phá vỡ sự đồng nhất và đơn điệu của các công việc đảm nhận. Từ đó, thời gian dành cho việc nghỉ ngơi sẽ giúp tăng tinh thần và động lực.
      3. Những người có khả năng sinh tồn nên nghỉ ngơi trước khi năng suất bắt đầu giảm. Nếu thời gian dành cho nghỉ ngơi nhiều hơn, thì không thời gian dành cho việc hồi sức sẽ giảm tương ứng. Khi vắt kiệt sức trong thời gian dài và tần suất cao, nên nghỉ ngơi thường xuyên hơn.Trong lúc này, những việc làm tạo cảm giác thư giảng là hiệu quả nhất . Nếu làm việc bằng đầu óc, tập thể dục nhẹ nhàng có thể giúp thư giãn hơn. Khi công việc trở nên nhàm chán,  thay đổi bằng hoạt động khác hoặc trò chuyện và trở nên hài hước là những cách thư giãn hiệu quả. Khi quyết định số lượng và tần suất của các khoảng thời gian nghỉ ngơi, phải cân nhắc sự mất mát hiệu quả do nỗ lực nhiều giờ hơn so với những đòi hỏi tuyệt đối của tình huống cấp bách cho sự tồn tại.
      4. Có thể giảm mệt mỏi bằng cách làm việc “thông minh hơn”. Những cách thực tế có thể thực hiện bao gồm điều chỉnh nhịp độ của nỗ lực (cân bằng trách nhiệm nặng nề, thứ hạng  và khoảng thời gian) và điều chỉnh kỹ thuật làm việc. So với đi nhanh, đi bộ với tốc độ bình thường  sẽ tiết kiệm sức lực hơn. Cách thức thực hiện công việc có ảnh hưởng lớn đến việc giảm mệt mỏi. Kinh tế của nỗ lực là quan trọng nhất. Các chuyển động nhịp nhàng phù hợp với nhiệm vụ là tốt nhất. Điều tốt nhất để cân bằng sức khỏe và kinh tế là giữ tốc độ chuyển động nhịp nhàng đối với những công việc không cần phải quá nhanh nhẹn.
      5. Hợp tác, hỗ trợ nhóm lẫn nhau và năng lực lãnh đạo là những yếu tố quan trọng trong việc duy trì tinh thần và hiệu quả của nhóm. Những yếu tố này giúp làm giảm căng thẳng và mệt mỏi. Một người có khả năng tồn tại tốt thường cảm thấy mệt mỏi và chán ngắt trước khi đạt đến giới hạn sinh lý. Việc cảm thấy mệt mỏi không chỉ liên quan đến phản ứng thể chất đối đối với sự nỗ lực, mà còn là những thay đổi tinh tế trong thái độ và động lực. Hãy nhớ rằng, một người có năng lượng dự trữ sẽ đối phó với tình huống khẩn cấp quan trọng rất hiệu quả, ngay cả khi cảm thấy rất hết sức sống và mệt mỏi.
    • Cũng như các trường hợp căng thẳng khác, chỉ một mức độ mệt mỏi vừa phải cũng làm giảm hiệu quả. Để kiểm soát sự kiệt sức, tuân theo một chương trình nghỉ ngơi định kỳ là một lựa chọn hợp lý và khôn ngoan. Vì mục tiêu chính là mong muốn được liên lạc với các người bạn thân thiện, những kẻ sống sót có thể đã đánh giá quá cao sức mạnh của họ và có nguy cơ kiệt sức. Mặt khác, không một cá nhân bị cô lập hay một người lãnh đạo nhóm nào nên đánh giá thấp năng lực của cá nhân hoặc nhóm trên cơ sở của sự cạn kiệt sức lao động. Cơ sở chính xác duy nhất để phán đoán phải được thu thập từ quá trình đào tạo và kinh nghiệm trong quá khứ. Trong đào tạo, một người nên hình thành đánh giá ​​về năng lực cá nhân của người khác dựa trên kinh nghiệm thực tế. Tương tự như vậy, trưởng nhóm phải đưa ra ý kiến ​​về năng lực của các thành viên trong nhóm của mình như thế. Nhóm được trích dẫn dưới đây không suy nghĩ rằng:
      “Khi màn đêm buông xuống và bao trùm lấy chúng tôi hoàn toàn. Chúng tôi quyết định cuốn mình vào máng thay vì tìm nơi trú ẩn. Chúng tôi đã quá mệt mỏi ngay cả trong việc nhóm lửa. Chúng tôi chỉ việc cắt một vài quả thông, cuộn mình trong ni lông và đi ngủ. . . và vì vậy, tất nhiên, trời đổ mưa, và mưa không hề nhẹ.. Chúng tôi đứng đó cho đến khi ướt sũng, và sau đó chúng tôi vật lộn ra ngoài và tìm một nơi trú ẩn khác. Vì trời tối đen như mực, chúng tôi không lấy được nước sạch ra khỏi mán, nên nước không chảy hết. Rất nhiều trong số đó đã được thông qua. Các khớp hông và chân của chúng tôi đau nhức như thể chúng tôi bị thấp khớp cấp tính. Bị ướt và lạnh làm nổi lên nỗi đau.Cứ mỗi mười phút là chúng tôi phải thay đổi vị trí, sau khi nghiến răng chịu đựng lâu như vậy. “

    MẤT NGỦ

    Những tác động từ mất ngủ có liên quan mật thiết đến sự kiệt sức. Ngủ trái giờ,  hay  ngủ trong những hoàn cảnh lạ, hoặc thiếu ngủ hay thường xuyên mất của diễn ra có thể khiến một người phản ứng bằng cách cảm thấy mệt mỏi, cáu kỉnh và căng thẳng về cảm xúc và giảm hiệu quả trong công việc. Mức độ phản ứng của một cá nhân này còn phụ thuộc vào mức độ xáo trộn trong giấc ngủ và các yếu tố căng thẳng khác có thể xảy ra (Hình 24).

    Hình 24. Mất ngủ

    1. Động lực mạnh mẽ là một trong những yếu tố chính giúp bù đắp những ảnh hưởng nghiêm trọng của việc mất ngủ. Điều hòa thể chất và tinh thần vượt trội, cơ hội để nghỉ ngơi, thức ăn và nước uống, và những người bạn đồng hành giúp bạn chịu đựng tình trạng thiếu ngủ. Nếu một người ở trong tình trạng thể chất và tinh thần tốt, tình trạng thiếu ngủ có thể kéo dài từ năm ngày trở lên mà không bị ảnh hưởng gì, mặc dù hiệu quả trong giai đoạn sau có thể kém. Một người phải học cách ngủ và nghỉ ngơi nhiều nhất có thể. Tác dụng phục hồi của giấc ngủ được cảm nhận ngay cả sau khi catnaps. Trong một số trường hợp, những người sống sót có thể cần phải tỉnh táo. Vận động, ăn, uống, hoạt động và trò chuyện là những cách một người có thể kích thích cơ thể tỉnh táo.
    2. Khi một người bị mất ngủ, cơn buồn ngủ thường xuất hiện từng đợt. Một người có thể đột nhiên buồn ngủ ngay sau khi cảm thấy tỉnh táo. Cảm giác đó sớm qua đi, và người đó tỉnh táo trở lại cho đến khi cơn buồn ngủ tiếp theo xuất hiện. Khi thời gian thiếu ngủ tăng lên, khoảng thời gian giữa các đợt buồn ngủ trở nên ngắn hơn. Nhu cầu ngủ có thể tăng cao sau một thời gian dài thiếu thốn khiến người ta trở nên tuyệt vọng và gây ra những việc bất cẩn hoặc nguy hiểm để thoát khỏi tình trạng căng thẳng này.

    SỰ CÔ LẬP

    Trong thời gian bị cô lập, những căng thẳng liên quan đến sự sinh tồn nghiêm trọng nhất là khi những người sống sót  đang trải qua sự cô đơn, bất lực và tuyệt vọng. Những người bình thường sẽ coi mối quan hệ của họ với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong quân đội và những người khác là điều hiển nhiên. Những kẻ sống sót sớm bắt đầu bỏ qua sự tương tác hàng ngày với những người khác. Giống như những căng thẳng khác, những tình trạng căng thẳng thế này có thể được khắc phục. Sự sống tách biệt với xã hội có thể được kiểm soát và vượt qua bằng kiến ​​thức, sự hiểu biết, các biện pháp đối phó có chủ ý và một ý chí kiên quyết để chống lại nó (Hình 25).

    Hình 25. Sự Cô lập

    SỰ BẤT AN

    Bất an là cảm giác bất lực hoặc thấy thiếu thốn do những căng thẳng và lo lắng khác nhau gây ra. Những lo lắng này có thể do sự không chắc chắn về mục tiêu, năng lực và tương lai của cá nhân. Cảm giác bất an có thể có nhiều tác động khác nhau đến hành vi của bạn. Bạn nên thiết lập các mục tiêu đầy thách thức nhưng có thể đạt được. Bạn càng cảm thấy ổn về khả năng của bản thân có thể đạt được mục tiêu và đáp ứng đầy đủ các nhu cầu cá nhân, bạn càng ít cảm thấy bất an.

    MẤT ĐI LÒNG TỰ TRỌNG

    Mất lòng tự trọng có thể xảy ra khi trong tình trạng bị giam giữ. Lòng tự trọng là trạng thái hoặc phẩm chất của sự tự tôn và tự hào cá nhân. Những người sống sót thiếu hoặc mất lòng tự trọng có thể dẫn đến trầm cảm và thay đổi quan điểm cũng như mục tiêu. Sự sỉ nhục và các yếu tố khác do kẻ giam giữ gây ra có thể khiến những người sống sót nghi ngờ giá trị của họ. Sự sỉ nhục bắt nguồn từ cảm giác mất tự hào hoặc tự tôn do bị miệt thị hoặc bị sỉ nhục và có liên quan đến việc đánh mất lòng tự trọng. Tù nhân chiến tranh (PWs) phải duy trì niềm tự hào của họ.

    Họ không được xấu hổ vì họ là tù nhân chiến tranh hoặc vì những điều xảy ra với họ khi trở thành những tù nhân thời chiến Những người sống sót từ chiến tranh bị mất mặt (với bản thân và với kẻ thù) trở nên dễ bị tổn thương hơn trước các nỗ lực khai thác của kẻ bắt giữ. Để giải quyết vấn đề này, những người sống sót nên cố gắng duy trì quan điểm đúng đắn về hoàn cảnh và bản thân. Cảm giác về giá trị bản thân của họ có thể được củng cố nếu họ nhớ lại cam kết ngụ ý trong Quy tắc Hạnh kiểm – những tù nhân chiến tranh sẽ không bị lãng quên (Hình 26).

    Hình 26. Mất lòng tự trọng.

    MẤT KHẢ NĂNG TỰ XÁC ĐỊNH

     

    Một người có thể tự quyết định thì tương đối không bị kiểm soát hoặc dễ chịu ảnh hưởng từ bên ngoài lên hành động của mình. Trong xã hội hiện tại, sự kiểm soát và ảnh hưởng này là luật lệ và phong tục đến từ xã hội và cũng từ các yếu tố mà bản thân tự áp đặt trong nhân cách của chúng ta. Trong cùng tình huống sinh tồn nhưng các biện pháp tạo ra sự kiểm soát và ảnh hưởng có thể rất khác nhau. Những người sống sót có thể cảm thấy như thể là các sự kiện, hoàn cảnh và trong một số trường hợp, những người khác đang kiểm soát tình hình. Một số nguyên nhân có thể khiến các cá nhân cảm thấy rằng họ đã mất đi quyền tự quyết chính là kẻ giam giữ khắc nghiệt, tình trạng bị giam cầm, thời tiết xấu hoặc việc cứu hộ mất nhiều thời gian và đòi hỏi phải di chuyển nhiều. Sự thiếu khả năng tự quyết này do cá nhân tự nhận thức được nhiều hơn là xảy ra ngoài thực tế. Những người sống sót sau chiến tranh phải quyết định các yếu tố gây khó chịu sẽ ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần của họ như thế nào. Họ phải có sự tự tin, được bồi dưỡng bằng kinh nghiệm và rèn luyện để sống với cảm xúc và quyết định của mình. Họ cũng phải có đủ sự tự tin để chấp nhận trách nhiệm về cách họ cảm nhận và cách họ để những cảm xúc đó ảnh hưởng đến họ.

    TRẦM CẢM

    Đối với một người còn sống sót, trầm cảm là vấn đề tâm lý lớn nhất phải được chinh phục, vượt qua. Họ cần phải chấp nhận rằng mọi người đều có những lúc có tinh thần không ổn định. Những người đang trải qua thời gian dài buồn bã kéo dài hoặc cảm thấy tiêu cực là người đang bị trầm cảm. Một tâm trạng bình thường gắn liền với sự đau buồn, buồn bã, thất vọng hoặc cô đơn mà mọi người đều trải qua đôi khi cũng là trầm cảm. Hầu hết những thay đổi cảm xúc trong tâm trạng là tạm thời và không trở thành căn bệnh mãn tính. Những người sống sót mà đang bị trầm cảm có thể cảm thấy sợ hãi, tội lỗi hoặc bất lực. Họ có thể mất hứng thú với những nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Có nhiều trường hợp có dấu hiệu của nỗi đau, sự mệt mỏi, chán ăn hoặc các bệnh thể chất khác. Một số người trầm cảm sau khi chiến tranh kết thúc sẽ cố gắng gây tự gây thương tích cho chính mình hoặc tự sát (Hình 27).

    1. Các bác sĩ tâm lý có một số giả thuyết về nguyên nhân của chứng trầm cảm. Một số người cảm thấy rằng một người mà , trong cuộc sống hàng ngày và trong điều kiện bình thường, trải qua nhiều giai đoạn trầm cảm có thể đã gặp khó khăn trong tình huống phải đối mặt với sự sống còn. Trầm cảm là một vấn đề khó khăn nhất vì nó có thể ảnh hưởng đến một loạt các phản ứng tâm lý. Các yếu tố có củng cố lẫn nhau.

      VÍ DỤ: Sự mệt mỏi, kiệt sức có thể dẫn đến trầm cảm, trầm cảm có thể làm tăng cảm giác mệt mỏi, mệt mỏi dẫn đến trầm cảm sâu hơn, v.v.

     

    1. Trầm cảm thường bắt đầu sau khi một người còn sống sót sau cuộc chiến đã đáp ứng được các nhu cầu cơ bản để duy trì sự sống (nước, chỗ ở và thức ăn). Một khi những nhu cầu cơ bản này được đáp ứng, người đó thường có quá nhiều thời gian để tập trung vào quá khứ, tình trạng khó khăn hiện tại và các vấn đề trong tương lai. Người còn sống phải nhận thức được sự cần thiết của việc giữ cho tâm trí và cơ thể hoạt động để loại bỏ cảm giác chán nản. Một cách để duy trì sự bận rộn (hàng ngày) là kiểm tra và cải thiện nơi trú ẩn, các tín hiệu và thức ăn.

Leave a comment